CHỐNG NẮNG HOÁ HỌC CÓ THẬT SỰ KHÔNG TỐT?

So sánh chống nắng hoá học và vật lý

Kem chống nắng được chia làm hai loại: vật lý (physical, inorganic) và hoá học (chemical, oragnic)

Kem chống nắngVật lý  Hoá học
Thành phần*Zinc Oxide, Titanium DioxideCác chất khác, ngoại trừ Zinc Oxide và Titanium Dioxide
Cơ chế hoạt độngPhản chiếu tia UV
Titanium Dioxide hiệu quả hơn trong chống UVB, trong khi Zinc Oxide hiệu quả hơn trong chống tia UVA
Zinc Oxide chống UVA-I (340–400nm) hiệu quả hơn khả năng chống UVA-II (315–340 nm)
Titanium Dioxide chống tia UVA-II (315–340nm) hiệu quả hơn chống tia UVA-I (34nm-400nm)
Chuyển hoá tia UV thành nhiệt, hay các tia UV có bức xạ dài hơn và ít năng lượng hơn. 

*dựa vào báo cáo các thành phần được cho phép sử dụng bởi Therapeutic Goods Administration (TGA)

Tính an toàn và hiệu quả

Theo báo cáo năm 2019 của FDA, các chất Zinc Oxide và Titanium Dioxide trong physical sunscreen được kết luận là có khả năng chống nắng hiệu quả và an toàn. 

Về các hoạt chất trong chemical sunscreen thì FDA có kết luận như sau: 

  • Oxybenzone và Avobenzone có khả năng chống nắng nhưng cần thêm nghiên cứu để khẳng định tính an toàn hiệu quả.  
  • Para-Aminobenzoic Acid, Trolamine Salicylate bị liệt kê vào danh sách không an toàn, và khuyến cáo không nên dùng trong sunscreen
  • Cinoxate, Dioxybenzone, Ensulizole, Homosalate, Meradimate, Octinoxate, Octisalate, Octocrylene, Padimate O, Sulisobenzone chưa khẳng định được tính hiệu quả và an toàn do đó cần thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai. 

Một bài nghiên cứu gần đây cũng cho thấy có sự thẩm thấu của hoạt chất trong chemical sunscreen vào cơ thể tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc chemical sunscreen có thể gây nguy hại cho sức khoẻ và nên bị bài trừ. 

Phản ứng phụ

Chống nắng hoá học

Kích ứng, dị ứng hay ngứa da là một trong các phản ứng phụ phổ biến nhất. Hoạt chất thường gây ra kích ứng gồm có benzophenones và butyl methoxy dibenzoylmethane. 

Bên cạnh đó, thí nghiệm trong ống nghiệm cho thấy có sự ảnh hưởng của một vài hoạt chất trong suncreen lên hormone oestrogen. Tiêu biểu như benzophenones, 4-methylbenzylidene camphor (4-MBC), và octyl methoxycinnamate (OMC). Tuy nhiên, chưa có kết quả thí nghiệm trên người cho thấy các hoạt chất này thực sự có ảnh hưởng lên cơ thể người giống như trong ống nghiệm. 

Bảng bên dưới liệt kê các thành phần gây ra dị ứng da tiếp xúc và khi phơi nắng

>20 kích ứng< 20 kích ứngÍt khả năng kích ứng            
p‐aminobenzoic acid (PABA)Oxybenzone (benzophenone 3) (2‐ hydroxy‐4‐methoxybenzophenone) Padimate OButyl methoxydibenzoylmethane (avobenzone)4‐methylbenzlidene camphor (enzacamene)OctocryleneCinoxate (2‐ethoxyethyl p‐ methoxycinnamate) BenzophenonePhenylbenzimidazole sulfonic acid (ensulizole) Sulisobenzone (benzophenone 4) (Uvinul MS)HomosalateDioxybenzone  (benzophenone 8)  Isoamyl methoxycinnamate Octyl salicylate (octisalate) (ethylhexyl salicylate)Octyl methoxycinnamate (ethylhexyl methoxycinnamate) (octinoxate) (Uvinul MC80) Polysilicone ‐15 Octyl triazone (ethylhexyl triazone) Methylene bis‐benzotriazolyl Tetrametholbutylphenol (bisotrizole)
Chống nắng vật lý

Kích thước phân tử nano của Titanium dioxide và Zinc Oxide rất nhỏ vì thế gây ra lo ngại về khả năng thẩm thấu xuyên qua da và vào máu. Tuy nhiên, đa số nghiên cứu cho thấy các hạt nano này không thể thẩm thấu qua khỏi lớp thượng bì. Thậm chí khi thẩm thấu, lượng phân tử của Zinc có thể đi vào cơ thể là cực kì nhỏ và không đáng kể khi so sánh với hàm lượng kẽm (Zinc) có sẵn trong máu. 

Mặc dù Zinc Oxide còn có các lợi ích khác như kháng viêm, kháng khuẩn, kiềm dầu, tuy nhiên theo kinh nghiệm làm việc thì mình vẫn gặp một số trường hợp khách bị dị ứng với kem chống nắng có chứa Zinc Oxide. Điều này cũng không thể hoàn toàn chứng minh rằng do Zinc Oxide mà da của khách bị kích ứng, vì có thể da bị kích ứng với các thành phần phụ chứa trong kem chống nắng đó. 

Ảnh hưởng hệ sinh thái

Rất nhiều bài nghiên cứu cho thấy các hoạt chất trong chemical sunscreen ảnh hưởng đến hệ sinh thái của các sinh vật biển. Tuy nhiên Zinc Oxide với kích thước nano cũng có thể gây nhiễm độc và stress cho một vài giống sinh vật biển nhất định. 

Loại sunscreen nào thì an toàn?

Kem chống nắng hoá học hay vật lý đều có khả năng gây ra kích ứng và các tác hại nhất định tới môi trường xung quanh. Sẽ có vẻ hơi thiên vị và thiển cận nếu một mực khẳng định rằng kem chống nắng hoá học không tốt, và kem chống nắng vật lý là an toàn và hiệu quả cho mọi loại da. 

Nguyên tắc cơ bản là mỗi loại da đều khác nhau. Tuỳ vào da và hoàn cảnh sử dụng mà chúng ta sẽ chọn lựa loại kem chống nắng hiệu quả có thành phần phù hợp cùng khả năng kích ứng thấp nhất. 

Ví dụ trên da vừa làm treatment như lăn kim, microdermabrasion, chemical peel, v.v khi mà bức tường bảo vệ trên da đang yếu và tổn thương, an toàn nhất là che chắn kĩ và không dùng chống nắng trực tiếp mà chờ khoảng 24h sau treatment. 

Một bài nghiên cứu về hàm lượng thẩm thấu của các chất bôi lên da sau laser cho thấy khả năng thẩm thấu của da sau treatments sẽ tăng 60%-70% so với da bình thường. Trong khi kem chống nắng được thiết kể để sử dụng trên bề mặt da, và hoàn toàn không nhẳm mục đích thẩm thấu vào da. 

Với da nhạy cảm, nên ưu tiên dùng physical sunscreen trước thay vì chemical sunscreen. Lí do không phải chống nắng hoá học là xấu, mà do trong chemical sunscreen thường sẽ chứa nhiều hoạt chất hơn vật lý. Theo lý thuyết càng nhiều hoạt chất thì khả năng kích ứng càng cao. So với chống nắng vật lý với hoạt chất chủ yếu là Zinc Oxide và Titanium Dioxide thì khả năng kích ứng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, cũng nên xem lại các thành phần khác mà bạn biết bản thân bị dị ứng hay không ví dụ như tinh dầu, chất tạo mùi, tạo màu, v..v 

Có nhiều loại da dị ứng với chống nắng vật lý, nhưng lại hoàn toàn ok khi dùng chống nắng hoá học. Và chống nắng hoá học từ nhiều nhãn hàng lớn vẫn cung cấp độ bảo vệ không thua kém chống nắng vật lý.

Bản thân mình khá là không thích khi một nhãn hàng quảng cáo về chống nắng vật lý bằng cách đưa ra các khía cạnh không tốt của chống nắng hoá học. Điều đó khá là sai vì không thể nói rằng Zinc Oxide có các lợi ích phù hợp da nhạy cảm, vì vậy kem chống nắng A từ công ty của chúng tôi là lựa chọn an toàn và hiệu quả hơn. Bởi vì chúng ta biết rõ rằng trong chống nắng vật lý còn có vô vàn các hợp chất khác. Và không thể đưa ra kết luận chống A an toàn và hiệu quả chỉ vì 1 chất trong sản phẩm đó an toàn và hiệu quả.  

Một điều nữa là chống nắng vật lý, hay bản thân Zinc Oxide hay Titanium Dioxide cũng là một chemical compounds hay hợp chất hoá học. Nên rất rất là sai khi người bán quảng cáo với bạn là kem chống nắng này an toàn do không chứa chất hoá học. 

Không khí có cấu trúc hoá học là O2. Nên bạn đừng nên tin vào lời quảng cáo “sản phẩm này không chứa chất hoá học nên rất an toàn cho da” nha. 

Vì vậy đừng bài trừ chống nắng hóa học nhé. 

Nguồn tham khảo:

  1. Hanigan, D., Mulchandani, A., Westerhoff, P., Truong, L., Tanguay, R. L., Schoepf, J., & Nosaka, T. (2018). Trade-offs in ecosystem impacts from nanomaterial versus organic chemical ultraviolet filters in sunscreens. Water Research139, 281–290. https://doi.org/10.1016/j.watres.2018.03.062
  2. Hiller, J., Klotz, K., Meyer, S., Uter, W., Hof, K., Greiner, A., Göen, T., & Drexler, H. (2019). Systemic availability of lipophilic organic UV filters through dermal sunscreen exposure. Environment International132, 105068. https://doi.org/10.1016/j.envint.2019.105068
  3. He, T., Tsui, M. M. P., Tan, C. J., Ma, C. Y., Yiu, S. K. F., Wang, L. H., Chen, T. H., Fan, T. Y., Lam, P. K. S., & Murphy, M. B. (2019). Toxicological effects of two organic ultraviolet filters and a related commercial sunscreen product in adult corals. Environmental Pollution245, 462–471. https://doi.org/10.1016/j.envpol.2018.11.029
  4. Fastelli, P., & Renzi, M. (2019). Exposure of key marine species to sunscreens: Changing ecotoxicity as a possible indirect effect of global warming. Marine Pollution Bulletin149. https://doi.org/10.1016/j.marpolbul.2019.110517
  5. https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/fda-advances-new-proposed-regulation-make-sure-sunscreens-are-safe-and-effective
  6. Wong, S. W. Y., Zhou, G.-J., Leung, P. T. Y., Kwok, K. W. H., Leung, K. M. Y., Han, J., & Lee, J.-S. (2020). Sunscreens containing zinc oxide nanoparticles can trigger oxidative stress and toxicity to the marine copepod Tigriopus japonicus. Marine Pollution Bulletin154. https://doi.org/10.1016/j.marpolbul.2020.111078
  7. https://www.federalregister.gov/documents/2019/02/26/2019-03019/sunscreen-drug-products-for-over-the-counter-human-use
  8. Yap, F. H., Chua, H. C., & Tait, C. P. (2017). Active sunscreen ingredients in Australia. Australasian Journal of Dermatology58(4), e160–e170. https://doi.org/10.1111/ajd.12597
  9. Abbasi, J. (2020). FDA Trials Find Sunscreen Ingredients in Blood, but Risk Is Uncertain. JAMA. https://doi.org/10.1001/jama.2020.0792
  10. Suh, S., Pham, C., Smith, J., & Mesinkovska, N. A. (2020). The banned sunscreen ingredients and their impact on human health: a systematic review. International Journal of Dermatology. https://doi.org/10.1111/ijd.14824
  11. Chen, W., Fang, C., Al-Suwayeh, S. A., Yang, H., Li, Y., & Fang, J. (2013). Risk assessment of excess drug and sunscreen absorption via skin with ablative fractional laser resurfacing. Lasers in Medical Science28(5), 1363-1374. https://doi.org/10.1007/s10103-012-1257-2

THÀNH PHẦN DƯỠNG DÀNH CHO DA THÂM, NÁM

Bài viết hôm nay tóm tắt các thành phần chữa trị thâm nám an toàn và hiệu quả.

Xin chào mọi người!

Trong bài viết lần trước về nám melasma mình chưa có dịp bàn đến các thành phần mỹ phẩm có thể giúp da cải thiện thâm nám hiệu quả. Vì vậy trong bài viết lần này mình sẽ viết đôi điều về các thành phần này nhé. 

Trong bài trước mình có tóm sơ quá trình hình thành nám là do các melanocyte sản xuất ra các túi melanosome chứa hạt melanin, các túi melanosome này sau đó được chuyển phát đến các hộ keratinocytes xung quanh. 

Có một cụm từ gọi là “Epidermal Melanin-Unit”, nôm na là đơn vị sắc tố da. Đơn vị này được quy định và bao gồm: 1 melanocyte, 30-40 keratinocyte, 1 langerhans cells liên kết với nhau bởi các xúc tua của melanocyte. 

Trung bình mỗi 1 melanocyte có thể chuyển melanin đến khảong 30-40 hộ dân cư keratinocyte trong xóm 😆

Trong các thành phần trị nám, thường thấy nhất là các chất có chức năng kìm hãm ezyme tyrosinase. Vậy tyrosinase là gì? 

TYROSINASE

Tyrosinase là một chất enzyme đóng vai trò cực kì quan trọng trong toàn bộ chu trình hình thành sắc tố. Các túi melanosome trong bước phát triển đầu tiên cần có enzyme tyrosinase để có thể chuyển hoá tyrosine thành L-DOPA, chuyển hoá L-DOPA thành DOPA-quinone, DOPA-quinone nếu có sự hiện diện của cystine chuyển hoá thành pheomelanin. Nếu không có sự hiện diện của cystine, thì sẽ chuyển thành eumelanin.  

Quá trình chuyển hoá của tyrosine thành melanin (nguồn)
MELANOSOME

Các chất trong mỹ phẩm cũng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của melanosome. Chu trình này tóm gọn trong hình như sau: 

  • Giai đoạn 1: Một túi rỗng được hình thành trong melnocyte. 
  • Giai đoạn 2: Túi rổng bắt đầu hơi dài ra thành hình bầu dục. Hình thành các sợi “fibrillar matrix” (tưởng tượng nó như dây phơi quần áo cho dễ hình dung) để cho hạt melanin sau này bám vào. Thời điểm này bắt đầu có sự xuất hiện của em tyrosinase. Em tyrosinase sẽ bắt tay vào chuyển hoá tyrosine thành L-DOPA như vừa bàn bên trên
  • Giai đoạn 3: bắt đầu sản xuất hạt melanin theo dạng hàng loạt, các hạt melanin lần lượt được gắn lên các sợi dây phơi đồ. 
  • Giai đoạn 4: Toàn bộ melanosome được no nê đầy ắp các hạt melanin (nên nhìn trong hình nó rất chi là đen) 
Quá trình phát triển của melanosome (nguồn)
CÁC CHẤT LÀM SÁNG DA

Bản bên dưới liệt kê khá chi tiết các chất được dùng trong sản phẩm trị thâm, nám cùng với cách thức hoạt động của chúng trong việc ngăn ngừa quá trình tạo sắc tố da. Mọi người xem tham khảo nhé. 

Trong bài tuần sau mình sẽ giới thiệu một vài sản phẩm trị thâm nám mà bản thân đã sử dụng qua, hoặc nhận được phản hồi tốt từ các khách hàng của mình cho mọi người nhé!

Stay tuned! 💕

References:

Cichorek, M., Wachulska, M., & Stasiewicz, A. (2013). Heterogeneity of neural crest-derived melanocytes. Open Life Sciences, 8(4). https://doi.org/10.2478/s11535-013-0141-1

Chaowattanapanit, S., Silpa-archa, N., Kohli, I., Lim, H. W., & Hamzavi, I. (2017). Postinflammatory hyperpigmentation: A comprehensive overview. Journal of the American Academy of Dermatology, 77(4), 607-621. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2017.01.036

Sahu PJ, Singh AL, Kulkarni S, Madke B, Saoji V, Jawade S. (2020). Study of oral tranexamic acid, topical tranexamic acid, and modified Kligman’s regimen in treatment of melasma. Journal of Cosmetic Dermatology. 19(6):1456-1462. doi:10.1111/jocd.13430

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

Plensdorf, S., Livieratos, M., & Dada, N. (2017). Pigmentation Disorders: Diagnosis and Management. American Family Physician96(12), 797–804.