CHỐNG NẮNG HOÁ HỌC CÓ THẬT SỰ KHÔNG TỐT?

So sánh chống nắng hoá học và vật lý

Kem chống nắng được chia làm hai loại: vật lý (physical, inorganic) và hoá học (chemical, oragnic)

Kem chống nắngVật lý  Hoá học
Thành phần*Zinc Oxide, Titanium DioxideCác chất khác, ngoại trừ Zinc Oxide và Titanium Dioxide
Cơ chế hoạt độngPhản chiếu tia UV
Titanium Dioxide hiệu quả hơn trong chống UVB, trong khi Zinc Oxide hiệu quả hơn trong chống tia UVA
Zinc Oxide chống UVA-I (340–400nm) hiệu quả hơn khả năng chống UVA-II (315–340 nm)
Titanium Dioxide chống tia UVA-II (315–340nm) hiệu quả hơn chống tia UVA-I (34nm-400nm)
Chuyển hoá tia UV thành nhiệt, hay các tia UV có bức xạ dài hơn và ít năng lượng hơn. 

*dựa vào báo cáo các thành phần được cho phép sử dụng bởi Therapeutic Goods Administration (TGA)

Tính an toàn và hiệu quả

Theo báo cáo năm 2019 của FDA, các chất Zinc Oxide và Titanium Dioxide trong physical sunscreen được kết luận là có khả năng chống nắng hiệu quả và an toàn. 

Về các hoạt chất trong chemical sunscreen thì FDA có kết luận như sau: 

  • Oxybenzone và Avobenzone có khả năng chống nắng nhưng cần thêm nghiên cứu để khẳng định tính an toàn hiệu quả.  
  • Para-Aminobenzoic Acid, Trolamine Salicylate bị liệt kê vào danh sách không an toàn, và khuyến cáo không nên dùng trong sunscreen
  • Cinoxate, Dioxybenzone, Ensulizole, Homosalate, Meradimate, Octinoxate, Octisalate, Octocrylene, Padimate O, Sulisobenzone chưa khẳng định được tính hiệu quả và an toàn do đó cần thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai. 

Một bài nghiên cứu gần đây cũng cho thấy có sự thẩm thấu của hoạt chất trong chemical sunscreen vào cơ thể tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc chemical sunscreen có thể gây nguy hại cho sức khoẻ và nên bị bài trừ. 

Phản ứng phụ

Chống nắng hoá học

Kích ứng, dị ứng hay ngứa da là một trong các phản ứng phụ phổ biến nhất. Hoạt chất thường gây ra kích ứng gồm có benzophenones và butyl methoxy dibenzoylmethane. 

Bên cạnh đó, thí nghiệm trong ống nghiệm cho thấy có sự ảnh hưởng của một vài hoạt chất trong suncreen lên hormone oestrogen. Tiêu biểu như benzophenones, 4-methylbenzylidene camphor (4-MBC), và octyl methoxycinnamate (OMC). Tuy nhiên, chưa có kết quả thí nghiệm trên người cho thấy các hoạt chất này thực sự có ảnh hưởng lên cơ thể người giống như trong ống nghiệm. 

Bảng bên dưới liệt kê các thành phần gây ra dị ứng da tiếp xúc và khi phơi nắng

>20 kích ứng< 20 kích ứngÍt khả năng kích ứng            
p‐aminobenzoic acid (PABA)Oxybenzone (benzophenone 3) (2‐ hydroxy‐4‐methoxybenzophenone) Padimate OButyl methoxydibenzoylmethane (avobenzone)4‐methylbenzlidene camphor (enzacamene)OctocryleneCinoxate (2‐ethoxyethyl p‐ methoxycinnamate) BenzophenonePhenylbenzimidazole sulfonic acid (ensulizole) Sulisobenzone (benzophenone 4) (Uvinul MS)HomosalateDioxybenzone  (benzophenone 8)  Isoamyl methoxycinnamate Octyl salicylate (octisalate) (ethylhexyl salicylate)Octyl methoxycinnamate (ethylhexyl methoxycinnamate) (octinoxate) (Uvinul MC80) Polysilicone ‐15 Octyl triazone (ethylhexyl triazone) Methylene bis‐benzotriazolyl Tetrametholbutylphenol (bisotrizole)
Chống nắng vật lý

Kích thước phân tử nano của Titanium dioxide và Zinc Oxide rất nhỏ vì thế gây ra lo ngại về khả năng thẩm thấu xuyên qua da và vào máu. Tuy nhiên, đa số nghiên cứu cho thấy các hạt nano này không thể thẩm thấu qua khỏi lớp thượng bì. Thậm chí khi thẩm thấu, lượng phân tử của Zinc có thể đi vào cơ thể là cực kì nhỏ và không đáng kể khi so sánh với hàm lượng kẽm (Zinc) có sẵn trong máu. 

Mặc dù Zinc Oxide còn có các lợi ích khác như kháng viêm, kháng khuẩn, kiềm dầu, tuy nhiên theo kinh nghiệm làm việc thì mình vẫn gặp một số trường hợp khách bị dị ứng với kem chống nắng có chứa Zinc Oxide. Điều này cũng không thể hoàn toàn chứng minh rằng do Zinc Oxide mà da của khách bị kích ứng, vì có thể da bị kích ứng với các thành phần phụ chứa trong kem chống nắng đó. 

Ảnh hưởng hệ sinh thái

Rất nhiều bài nghiên cứu cho thấy các hoạt chất trong chemical sunscreen ảnh hưởng đến hệ sinh thái của các sinh vật biển. Tuy nhiên Zinc Oxide với kích thước nano cũng có thể gây nhiễm độc và stress cho một vài giống sinh vật biển nhất định. 

Loại sunscreen nào thì an toàn?

Kem chống nắng hoá học hay vật lý đều có khả năng gây ra kích ứng và các tác hại nhất định tới môi trường xung quanh. Sẽ có vẻ hơi thiên vị và thiển cận nếu một mực khẳng định rằng kem chống nắng hoá học không tốt, và kem chống nắng vật lý là an toàn và hiệu quả cho mọi loại da. 

Nguyên tắc cơ bản là mỗi loại da đều khác nhau. Tuỳ vào da và hoàn cảnh sử dụng mà chúng ta sẽ chọn lựa loại kem chống nắng hiệu quả có thành phần phù hợp cùng khả năng kích ứng thấp nhất. 

Ví dụ trên da vừa làm treatment như lăn kim, microdermabrasion, chemical peel, v.v khi mà bức tường bảo vệ trên da đang yếu và tổn thương, an toàn nhất là che chắn kĩ và không dùng chống nắng trực tiếp mà chờ khoảng 24h sau treatment. 

Một bài nghiên cứu về hàm lượng thẩm thấu của các chất bôi lên da sau laser cho thấy khả năng thẩm thấu của da sau treatments sẽ tăng 60%-70% so với da bình thường. Trong khi kem chống nắng được thiết kể để sử dụng trên bề mặt da, và hoàn toàn không nhẳm mục đích thẩm thấu vào da. 

Với da nhạy cảm, nên ưu tiên dùng physical sunscreen trước thay vì chemical sunscreen. Lí do không phải chống nắng hoá học là xấu, mà do trong chemical sunscreen thường sẽ chứa nhiều hoạt chất hơn vật lý. Theo lý thuyết càng nhiều hoạt chất thì khả năng kích ứng càng cao. So với chống nắng vật lý với hoạt chất chủ yếu là Zinc Oxide và Titanium Dioxide thì khả năng kích ứng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, cũng nên xem lại các thành phần khác mà bạn biết bản thân bị dị ứng hay không ví dụ như tinh dầu, chất tạo mùi, tạo màu, v..v 

Có nhiều loại da dị ứng với chống nắng vật lý, nhưng lại hoàn toàn ok khi dùng chống nắng hoá học. Và chống nắng hoá học từ nhiều nhãn hàng lớn vẫn cung cấp độ bảo vệ không thua kém chống nắng vật lý.

Bản thân mình khá là không thích khi một nhãn hàng quảng cáo về chống nắng vật lý bằng cách đưa ra các khía cạnh không tốt của chống nắng hoá học. Điều đó khá là sai vì không thể nói rằng Zinc Oxide có các lợi ích phù hợp da nhạy cảm, vì vậy kem chống nắng A từ công ty của chúng tôi là lựa chọn an toàn và hiệu quả hơn. Bởi vì chúng ta biết rõ rằng trong chống nắng vật lý còn có vô vàn các hợp chất khác. Và không thể đưa ra kết luận chống A an toàn và hiệu quả chỉ vì 1 chất trong sản phẩm đó an toàn và hiệu quả.  

Một điều nữa là chống nắng vật lý, hay bản thân Zinc Oxide hay Titanium Dioxide cũng là một chemical compounds hay hợp chất hoá học. Nên rất rất là sai khi người bán quảng cáo với bạn là kem chống nắng này an toàn do không chứa chất hoá học. 

Không khí có cấu trúc hoá học là O2. Nên bạn đừng nên tin vào lời quảng cáo “sản phẩm này không chứa chất hoá học nên rất an toàn cho da” nha. 

Vì vậy đừng bài trừ chống nắng hóa học nhé. 

Nguồn tham khảo:

  1. Hanigan, D., Mulchandani, A., Westerhoff, P., Truong, L., Tanguay, R. L., Schoepf, J., & Nosaka, T. (2018). Trade-offs in ecosystem impacts from nanomaterial versus organic chemical ultraviolet filters in sunscreens. Water Research139, 281–290. https://doi.org/10.1016/j.watres.2018.03.062
  2. Hiller, J., Klotz, K., Meyer, S., Uter, W., Hof, K., Greiner, A., Göen, T., & Drexler, H. (2019). Systemic availability of lipophilic organic UV filters through dermal sunscreen exposure. Environment International132, 105068. https://doi.org/10.1016/j.envint.2019.105068
  3. He, T., Tsui, M. M. P., Tan, C. J., Ma, C. Y., Yiu, S. K. F., Wang, L. H., Chen, T. H., Fan, T. Y., Lam, P. K. S., & Murphy, M. B. (2019). Toxicological effects of two organic ultraviolet filters and a related commercial sunscreen product in adult corals. Environmental Pollution245, 462–471. https://doi.org/10.1016/j.envpol.2018.11.029
  4. Fastelli, P., & Renzi, M. (2019). Exposure of key marine species to sunscreens: Changing ecotoxicity as a possible indirect effect of global warming. Marine Pollution Bulletin149. https://doi.org/10.1016/j.marpolbul.2019.110517
  5. https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/fda-advances-new-proposed-regulation-make-sure-sunscreens-are-safe-and-effective
  6. Wong, S. W. Y., Zhou, G.-J., Leung, P. T. Y., Kwok, K. W. H., Leung, K. M. Y., Han, J., & Lee, J.-S. (2020). Sunscreens containing zinc oxide nanoparticles can trigger oxidative stress and toxicity to the marine copepod Tigriopus japonicus. Marine Pollution Bulletin154. https://doi.org/10.1016/j.marpolbul.2020.111078
  7. https://www.federalregister.gov/documents/2019/02/26/2019-03019/sunscreen-drug-products-for-over-the-counter-human-use
  8. Yap, F. H., Chua, H. C., & Tait, C. P. (2017). Active sunscreen ingredients in Australia. Australasian Journal of Dermatology58(4), e160–e170. https://doi.org/10.1111/ajd.12597
  9. Abbasi, J. (2020). FDA Trials Find Sunscreen Ingredients in Blood, but Risk Is Uncertain. JAMA. https://doi.org/10.1001/jama.2020.0792
  10. Suh, S., Pham, C., Smith, J., & Mesinkovska, N. A. (2020). The banned sunscreen ingredients and their impact on human health: a systematic review. International Journal of Dermatology. https://doi.org/10.1111/ijd.14824
  11. Chen, W., Fang, C., Al-Suwayeh, S. A., Yang, H., Li, Y., & Fang, J. (2013). Risk assessment of excess drug and sunscreen absorption via skin with ablative fractional laser resurfacing. Lasers in Medical Science28(5), 1363-1374. https://doi.org/10.1007/s10103-012-1257-2

CẤU TRÚC DA – TRUNG BÌ & RẠN DA

Trong tuần trước mình đã cùng nhau tìm hiểu cấu trúc thượng bì của da, hôm nay mình sẽ xem cấu trúc ở lớp trung bì bao gồm những gì nhé 

Lớp trung bì được cấu trúc bởi hệ thống collagen và sợi elastin. Cấu trúc này tạo nên sức dẻo dai đàn hồi cho da để khi chúng ta kéo da, da sẽ trở lại hình dáng ban đầu. So với lớp thượng bì, thì lớp trung bì dày hơn rất nhiều. Độ dày của trung bì cũng thay đổi tuỳ thuộc vào từng vị trí trên cơ thể. Tương tự như ở lớp thượng bì, vị trí dày nhất cũng là ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. 

Ở lớp trung bì, chúng ta có thể thấy sự hiện diện của các tế bào sau: 

  • Fibroblast: chiếm phần lớn số lượng tế bào lớp trung bì. Có vai trò tạo collagen, elastin fibres, proteoglycans, growth factors (TNF-b), cytokines (TNF-a), và matrix metalloproteinases (MMPs, chức năng tiêu huỷ collagen). Thông quá các chức năng này, ta có thể thấy vai trò của fibroblast quan trọng như thế nào trong quá trình tái tạo da và chữa lành vết thương
  • Đại thực bào (macrophage)
  • Tế bào mỡ: chiếm một phần nhỏ, vì ngay bên dưới trung bì là lớp mỡ

Ngoài ra, còn có các thành phần như:

  • Mạch máu, mạch bạch huyết
  • Dây thần kinh cảm giác 
  • Tuyến dầu, tuyến mồ hôi 
  • Lỗ chân lông

Do ở lớp thượng bì hoàn toàn không có mạch máu, lớp trung bì có vai trò quan trọng quyết định tự tồn tại của thượng bì. 

Lớp trung bì sẽ được chia thành 2 phần chính đó là : papillary dermis, mỏng nằm phía trên, và reticular dermis dày hơn ở phía dưới 

Papillary dermis

Lớp này chiếm khoảng 1/5 độ dày của trung bì. Được cấu tạo bởi:

  • nhiều sợi collagen và elastin mỏng
  • các sợi mạch máu nhỏ nằm ngay bên dưới thượng bì
  • các đầu thần kinh cảm giác: để nhận biết cảm giác light touch, nóng, lạnh, đau, nhột, và ngứa

Reticular dermis

(reticul = giống hệ thống mạng lưới)

Vị trí tiếp nối giữa thượng bì và trung bì có hình dạng gợn sóng. Cấu trúc gợn sóng này giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa trung và hạ bì. 

Diện tích bề mặt tiếp xúc nhiều hơn sẽ tạo điều kiện cho nhiều mạch máu tập trung ngay bên dưới thượng bì, từ đó cung cấp nhiều oxygen và nhiều chất dinh dưỡng hơn cho lớp đáy của thượng bì. Lớp đáy của thượng bì là lớp cấu tạo bởi stem cell (tế bào sản sinh ra các tế bào da) nên việc hấp thụ đầy đủ dưỡng chất để sản sinh ra tế bào da mới là hết sức quan trọng. 

Ngoài ra, cấu trúc gợn sóng này còn giúp gắn kết hạ bì và thượng bị chặt chẽ với nhau hơn. Nhờ khả năng gắn kết chặt chẽ mà da có thể chịu được những lực trượt lực kéo trên da. Giả dụ, nếu 2 lớp da không được gắn kết bằng các khớp gợn sóng, thì khi chúng ta trượt hay kéo da, 2 lớp da sẽ bị trượt qua lại và bị tách ra vì không có chỗ để bám vào nhau. 

Ở vân tay, vân gót chân, hay những vị trí chịu nhiều sức ma sát chúng ta có thể thấy sự gợn sóng rõ rệt nhất. 

Stretch marks – Rạn da

Rạn da là kết quả của lớp trung bì bị tổn thương từ bên trong (internal scarring). Khi một vùng da bị căng quá mức, các liên kết giữa những collagen song song nhau bị gãy, và các mạch máu cũng bị phá vỡ. Đặc điểm này tạo ra hiện tượng vết rạn mới hình thành có màu hơi hồng hay đỏ. 

Cơ thể sẽ tự chữa lành vị trí rạn, bằng cách tái tạo những sợi collagen và elastin mới. Tuy nhiên, collagen được tái tạo bởi fibroblast lại mỏng hơn, rời rạc, bó dày và xếp song song nhau. 

Bên cạnh đó, các sợi elastin nằm dọc ngay dưới lớp papillary dermis cũng bị mất đi khi da bị rạn. Ở phần papillary dermis, các elastin mới hình thành cũng rất mỏng và ngắn rõ rệt.

Ở giai đoạn trưởng thành, vết rạn sẽ không còn nhiều sự hiện diện của các mạch máu. Do đó vết rạn sẽ có màu trắng thay vì màu hồng như lúc ban đầu. Vùng da rạn lúc này được xem như là vùng da sẹo (scar).  

Theo các nghiên cứu, phương thức điều trị rạn da mang lại hiệu quả cao nhất là radio frequency (RF) hay RF kết hợp với các phương thức điều trị khác. RF mang lại hiệu quả khá tốt khi vết rạn còn mới và có màu hồng. 

Một số nghiên cứu cũng cho thấy RF hiệu quả trên các vết rạn đã cũ. Tuy nhiên sau khi vết rạn đã chuyển sang màu trắng, vì không còn sự hiện diện nhiều của mạch máu, thì các phương thức chữa trị thường không mang lại hiệu quả đáng kể như khi vết rạn còn mới. Vì nếu không có mạch máu thì không có oxygen, tế bào miễn dịch, hay chất dinh dưỡng nào có thể tiếp cận để nuôi dưỡng vùng da rạn. 

Trong bài viết sau mình sẽ tìm hiểu sâu hơn về rạn da và các cách điều trị phù hợp và hiệu quả nhé 💕

Stay tuned!

Nguồn tham khảo

Harmelin, Y., Boineau, D., Cadot-Leccia, N., Fontas E., Bahadoran P., Becker A.L., Montaudié, H., Castela, E., Perrin, C., Lacour, J.P. & Passeron,T. (2016). Fractionated bipolar radiofrequency and bipolar radiofrequency potentiated by infrared light for treating striae: A prospective randomised, comparative trial with objective evaluation. Lasers in Surgery and Medicine, 48(3), 245-253. doi: 10.1002/lsm.22458

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Hague, A., & Bayat, A. (2017). Therapeutic targets in the management of striae distensae: A systematic review. Journal of the American Academy of Dermatology77(3), 559–568. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2017.02.048

Kabashima, K., Honda, T., Ginhoux, F., & Egawa, G. (2019). The immunological anatomy of the skin. Nature Reviews. Immunology19(1), 19–30. https://doi.org/10.1038/s41577-018-0084-5

CẤU TRÚC DA – THƯỢNG BÌ

Trước khi tìm hiểu các vấn đề về da và các cách trị liệu, mình hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược về cấu trúc của da cũng như nguyên lý hoạt động của da nhé. Bài đầu tiên mình sẽ cùng nhau bàn về lớp thượng bì của da, và các tế bào tồn … Continue reading “CẤU TRÚC DA – THƯỢNG BÌ”

Trước khi tìm hiểu các vấn đề về da và các cách trị liệu, mình hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược về cấu trúc của da cũng như nguyên lý hoạt động của da nhé. Bài đầu tiên mình sẽ cùng nhau bàn về lớp thượng bì của da, và các tế bào tồn tại ở lớp da này. Trong bài tiếp theo mình sẽ viết về cấu trúc của lớp trung bì. 

Xét về mặt trọng lượng, da là bộ phận lớn nhất trên cơ thể với tổng cân nặng vào khoảng 4-5kg. Da có độ dày khác nhau tuỳ vào vị trí trên cơ thể. Ví dụ như ở mắt là 0.5mm, ở gót chân là 4.0mm, và ở các vị trí còn lại là 1-2mm. 

Da được cấu tạo bởi lớp trên cùng được gọi là Thượng Bì, và lớp bên dưới, được gọi là Trung bì. Bên dưới Trung bì là lớp Hạ Bì, có chức năng liên kết lớp Hạ bì vào lớp cơ. 

Mặc dù nhìn bằng mắt thường da có cấu trúc dạng lớp, nhưng khi nhìn dưới kính hiển vi, da được cấu tạo bởi sự kết nối của hàng triệu các tế bào keratin. Các tế bào keratin kết nối thông qua các liên kết tế bào (cell junctions). Các liên kết tế bào này mang đến tính dẻo dai đàn hồi cho da khi phải chịu các tác động từ bên ngoài bên cạnh các nhân tố khác như keratin, collagen và elastin. Hai loại liên kết tế bào hiện diện ở da gồm có corneodesmosome và hemidesmosome.

Khi chúng ta dùng peel da hoá học hay vật lý lên da, các mối liên kết tế bào giữa các tế bào da bị phá vỡ. Sự mất liên kết này khiến các tế bào da chết dễ dàng bị tróc đi. Các peel dạng nhẹ sẽ phá vỡ những liên kết tế bào ở lớp bên trên của lớp sừng. Những peel mạnh hơn sẽ phá vỡ những liên kết ở các lớp sừng sâu hơn. 

CÁC TẾ BÀO

  • Tế bào langerhans: có vai trò cực kì quan trọng trong khả năng miễn dịch của da. Khi da có sự xâm hại của vi khuẩn hay vật thể lạ, tế bào langerhans sẽ bắt lấy các vi khuẩn này, thông báo cho các tế bào miễn dịch khác trong cơ thể đến vị trí bị xâm phạm và cùng nhau loại trừ vi khuẩn. Tuy nhiên tế bào langerhans lại dễ bị tổn thương bởi tia UV 

Tips: bảo vệ da khỏi tia UV -> bảo vệ tế bào langerhans -> bảo vệ hệ miễn dịch của da 

  • Tế bào cảm giác: nằm ở lớp tế bào đáy (basal layer) và liên kết với tactile disc của riêng mình. Tế bào này có nhiệm vụ truyền tín hiệu cảm giác (light touch) khi có gì đó chạm vào da.  

CÁC LỚP DA

Phần lớn da các vùng trên cơ thể được cấu trúc bởi 4 lớp: lớp tế bào sừng (Stratum Corneum), lớp tế bào hạt (Granular Layer), lớp tế bào gai (Prickle Layer), và lớp tế bào đáy (Basal Layer). Ngoại trừ những vùng da dày như ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, và đầu ngón tay sẽ có thêm lớp tế bào sáng (Stratum Lucidum). Cấu trúc, loại liên kết tế bào, và tế bào cư ngụ ở từng lớp da được mình tóm tắt trong bảng bên dưới

Lớp daCấu trúc của lớp tế bàoCấu trúc của KeratinocyteSự hiện diện của các tế bào khácLoại liên kết tế bào
Lớp tế bào sừng– 20-50 lớp
– Tồn tại đa phần là tế bào sừng
– Tế bào dẹp hoàn toàn, chứa đa phần là sợi keratin
– Tế bào được xem như đã chết, những vẫn thực hiện chức năng ra hiệu cho các tế bào lân cận.  
– Tế bào langerhansCorneodesmosomes
Lớp tế bào sáng– 4-6 lớp
– Chỉ xuất hiệt ở da lòng bàn tay, lòng bàn chân, và đầu ngón tay
– Tế bào chết, trong suốt, dẹp
– Tế bào keratin tích tụ một lượng lớn sợi keratin
– Tế bào langerhansCorneodesmosomes
Lớp tế bào hạt– 3-5 lớp
– Tế bào keratine dần trở nên dẹp hơn 
– Tế bào keratin dần chết đi theo chu trìnhBắt đầu có sự xuất hiệt của protein keratohyalin (chuyển khoá keratin filament thành keratin fibers) và hạt lamellar (tiết ra chất béo có khả năng chống nước) – Tế bào langerhansCorneodesmosomes
Lớp tế bào gai– 8-10 lớp
– Tế bào keratin 
-Một số tế bào keratin tiếp tục phân bào 
– Tế bào keratin trở nên dẹp hơn khi di cư lên phía trên 
– Xúc tua của tế bào hắc tố
-Tế bào langerhans
Corneodesmosomes kết nối các tế bào tại lớp tế bào gai với nhau, tạo nên tính bền bỉ và dẻo dai cho da 
Lớp tế bào đáy-1 lớp duy nhất
-Tế bào keratin tròn, và tế bào gốc (stem cells)
-Một tế bào gốc (stem cell) sẽ liên tục phân bào thành 1 stem cell và một tế bào con. -Tế bào con sẽ di chuyển lên lớp Tế bào gai, thay đổi hình dạng, và các bào quan. Tế bào stem cell sẽ ở lại lớp đáy và tiếp tục phân bào.  – Tế bào hắc tố
-Tế bào cảm giác
-Corneodesmosome tạo kết nối giữa các tế bào tại lớp đáy, và kết nối giữa tế bào lớp đáy và tế bào lớp gai
– Hemidesmosome tạo kết nối giữa tế bào lớp đáy với basement membrane (lớp này nằm ngay dưới basal layer có nhiệm vụ liên kết dermis và epidermis) 
LỚP TẾ BÀO SỪNG

Lớp tế bào sừng đóng vai trò khá quan trọng trong chức năng bảo vệ da, nên mình sẽ miêu tả chi tiết hơn về cấu trúc của lớp da này nhé. Hiểu rõ về cấu trúc của lớp sừng sẽ giúp chúng ta hình dung và hiểu được vì sao khi da bị khô, thiếu dầu hay thiếu ẩm sẽ dẫn đến tình trạng da bị kích ứng với môi trường bên ngoài. Môi trường bên ngoài bao gồm các sản phẩm mình sử dụng lên da, hay các hạt bụi, phấn hoa, hay bất kì vật thể nào tiếp xúc lên da. 

Như trong ảnh miêu tả lớp tế bào sừng bên trên, các tế bào keratin được đan lại với nhau bằng liên kết tế bào corneodesmosome. Giữa những tế bào keratin này là chất lipid – intercellular lamellar lipid (intercellular: giữa các tế bào). Sự sắp xếp này nôm na mô phỏng cấu trúc của gạch và xi măng (brick and motar structure). 

  • Chất intercellular lamellar lipid: như trong bảng tóm tắt bên trên về các lớp da, ở tầng tế bào gai bắt đầu có sự hình thành của lamellar granules. Các hạt lamellar này ban đầu được sản sinh từ trong tế bào keratin, sau quá trình chuyển hoá, cuối cùng trở thành lớp lipid bi-layer bên ngoài tế bào keratin. Chất lipid này giúp da có khả năng chống thấm nước, và cũng giúp hơi nước không bị bốc hơi ra ngoài. 
  • Tế bào sừng (corneocyte): bên trong có chứa các sợi keratin và NMF (Natural moisturising factors). Bên ngoài được bao phủ bởi 1 lớp sừng hoá. Bên trên lớp sừng hoá này lại được bao phủ bởi 1 lớp lipid. 

NMF có khả năng hút ẩm từ môi trường xung quanh ngay khi độ ẩm không khí xuống khá thấp, khoảng 50%. Việc rửa tay thường xuyên khiến cho lượng NMF bị trôi theo nước mà mất đi, đồng thời làm tổn hại cấu trúc lipid vốn có của da. Dẫn đến tình trạng da mất khả năng hút ẩm cũng như giữ ẩm. Ngoài ra, khi phần lipid ở da bị phá vỡ, lớp phòng bị của da trở nên yếu dần. Đặc điểm này vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn hay các vật thể lạ xâm lấn vào da nhanh và dễ dàng hơn. Khiến da dễ kích ứng khi có tiếp xúc với những vật thể lạ. 

Nhìn tổng thể, nhờ vào chất lipid tồn tại ở lớp sừng mà da chúng ta có khả năng chống nước cực kì hiệu quả. Nếu da không chống nước thì mọi người tưởng tượng miếng bông rửa chén nó hút nước thế nào, thì da ta cũng hút nước y như thế và cuối cùng là bị phù nước mất thôi ạ 😂

Nói như vậy thì da chúng ta bảo vệ quá nghiêm ngặt. Và không rõ là những gì chúng ta xức lên da có thể thấm sâu vào da đúng không nhỉ. Thật ra, cấu trúc da cho phép những gì chúng ta xức lên da thấm vào bên trong (mà không cần sự hỗ trợ của dụng cụ hay thiết bị) qua ba phương thức chủ yếu: 

  • Tuyến mồ hôi, lỗ chân lông
  • Đi len giữa các tế bào keratin
  • Đi xuyên qua các tế bào keratin 

Trong 3 cách thức này thì hai cách đầu tiên là khả thi nhất. 

QUÁ TRÌNH SỪNG HOÁ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƯỢNG BÌ

Các tế bào keratin mới được sản sinh ở lớp tế bào đáy. Trong quá trình phát triển của mình, các tế bào này di cư từ lớp tế bào đáy lên lớp tế bào sừng ở bề mặt da. Trong quá trình di cư, các tế bào keratin sẽ mất dần đi các bào quan (organelles – hay các tiểu tế bào bên trong tế bào keratin), hình dạng của chúng trở nên dẹp hơn, và dần tích tụ nhiều sợi keratin hơn. Đây được gọi là quá trình sừng hoá. Khi các tế bào keratin di cư đến lớp sừng trên cùng, chúng dần tróc đi và các tế bào keratin bên dưới lần lượt di cư lên lớp sừng để thay thế cho phần sừng hoá bị tróc đi. Ở da có độ dày trung bình khoảng 0.1mm, toàn bộ chu trình di cư này thường kéo dài từ 4 đến 6 tuần. 

Theo những gì đã thảo luận bên trên, chúng ta có thể thấy lớp thượng bì không có mạch máu để có thể nhận oxy và dưỡng chất. Vì lí do này, lớp hạ bì được cấu trúc với một hệ thống dày đặc các sợi mạch máu, nhằm cung cấp dưỡng chất và oxy cho lớp thượng bì. Nguyên lý cơ bản cho mọi tế bào sống là chúng cần oxy và dưỡng chất để hoạt động và tồn tại. Vì vậy nếu xét về vị trí sắp xếp, các tế bào nằm ở lớp đáy là những tế bào nhận được nhiều dưỡng chất nhất vì có vị trí gần nhất với hệ thống mạch máu ở lớp trung bì. Đây cũng là lớp tế bào liên tục sản sinh ra các tế bào keratin gốc (stem cell) thông qua quá trình phân bào. Các stem cell này sẽ lần lượt theo chu trình sừng hoá mà di chuyển lên bề mặt da, xa dần khỏi hệ thống mạch máu, nhận được ít oxy và dưỡng chất hơn, hoạt động chậm dần lại và cuối cùng là chết đi. 

Khi lớp sừng bị xâm phạm quá mức, lớp tế bào đáy sẽ bị kích thích để tăng cường hoạt động sản sinh tế bào gốc và tế bào keratin mới nhằm bù lại lớp da thượng bì bị mất. Nguyên lý hoạt động đằng sau sự phát triển kì diệu này của tế bào da hiện còn chưa được khám phá toàn diện. Tuy nhiên, trong quá trình này có sự góp mặt của một protein đóng vai trò then chốt, chi phối toàn bộ quá trình tái tạo da được gọi là EGF (Epidermal Growth Factor). 

Bài viết về lớp thượng bì tạm thời kết húc tại đây. Ở phần sau mình sẽ cùng nhau thảo luận về lớp trung bì. Mọi người đón đọc nhé 🙂 

Nguồn tham khảo:

Harding, C. (2004). The stratum corneum: Structure and function in health and disease. Dermatologic Therapy17(1), 6-15

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Lee, K. C., Wambier, C. G., Soon, S. L., Sterling, J. B., Landau, M., Rullan, P., & Brody, H. J. (2019). Basic chemical peeling: Superficial and medium-depth peels. Journal of the American Academy of Dermatology81(2), 313–324. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2018.10.079

Ogawa-Fuse, C., Morisaki, N., Shima, K., Hotta, M., Sugata, K., Ichihashi, T., Oguri, M., Yoshida, O., & Fujimura, T. (2019). Impact of water exposure on skin barrier permeability and ultrastructure. Contact Dermatitis80(4), 228–233. https://doi.org/10.1111/cod.13174