TRIỆT LÔNG VĨNH VIỄN VÀ CÁC BIẾN CHỨNG

Triệt lông vĩnh viễn

Hiện nay, có thể nói dịch vụ “triệt lông vĩnh viễn” được xem như một trong các dịch vụ phổ biến và được nhiều người ưa chuộng nhất tại các spa. 

Nguyên nhân căn bản có thể vì tính “vĩnh viễn”, tiện lợi, và an toàn của nó. Thay vì wax, nhổ, cạo lông thường xuyên vì lông mọc theo chu kì, thì “triệt lông vĩnh viễn” bằng laser hay IPL có thể làm chết nang lông, mang lại hiệu quả lâu dài, không quá đau, khá an toàn (điều này còn phụ thuộc nhiều yếu tố); cộng thêm chi phí ngày càng hợp túi tiền hơn hiển nhiên là một lựa chọn vượt trội. 

Cơ chế hoạt động 

Hoạt động dựa trên cơ chế các hắc tố trong sợi lông hấp thụ tia sáng phát ra từ laser hay IPL, chuyển đổi các ánh sáng từ laser/IPL này thành nhiệt độ đủ cao để phá huỷ các tế bào gốc tại nang lông, cùng các cấu trúc xung quanh nang lông. Kết quả là lông mọc yếu dần, mỏng đi, và hoàn toàn không mọc trở lại. 

Một vòng đời của lông có ba giai đoạn: hoạt động – tạm ngừng – ngưng hoạt động. Ước chừng trên cơ thể có vào khoảng 70%-80% các nang lông đang trong giai đoạn hoạt động. Số nang lông còn lại đang trong giai đoạn tạm ngừng mọc lông. 

Vì triệt lông hoạt động dựa trên nguyên tắc hắc tố của sợi lông hấp thụ tia laser nên 20%-30% các nang lông hiện không có lông sẽ không chịu tác động của tia laser/IPL. Điều này lí giải cho hiện tượng sau liệu trình điều trị khoảng 6 tháng trở đi, bạn bắt đầu thấy một vài sợ lông cứng (thay vì mỏng, thưa) mọc lên. Đây là những sợi lông chưa bị triệt trong đợt điều trị ban đầu. 

Cho dù như vậy, số lượng lông mọc lại chỉ vào khoảng 20-30% tổng số lông bạn có mà thôi. 

Nguyên tắc này áp dụng cho những ai không bị các chứng bệnh mọc lông quá đà dưới ảnh hưởng hormone hay các yếu tố khác. 

Hiện trạng 

Tuy triệt lông vĩnh viễn khá an toàn, vẫn có nhiều biến chứng có thể xảy ra sau khi triệt lông. Các biến chứng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kĩ thuật viên, cơ địa, tuỳ chỉnh trong máy, chăm sóc sau điều trị, v..v. 

Phản ứng phụ

Các phản ứng phụ cần có, hay còn gọi là clinical endpoints sau khi triệt lông bao gồm:

  • Da ửng hồng (erythema)
  • Sưng xung quanh lỗ chân lông (perifollicular oedema)

Các phản ứng phụ này là hoàn toàn bình thường và cần phải có, và kéo dài từ 2-7 ngày sau khi triệt lông. Tuy nhiên, nếu tình trạng da đỏ và sưng lỗ chân lông xảy ra lâu hơn 7 ngày thì bạn nên kiểm tra với bác sĩ vì hơn 7 ngày là khá lâu và cho thấy phản ứng phụ này không còn bình thường nữa. 

Biến chứng

Triệt lông vĩnh viễn nhìn chung an toàn và hiệu quả, tuy nhiên các biến chứng vẫn có thể xảy ra do nhiều yếu tố khác nhau

Biến chứng thường gặp
  • Thâm (hyperpigmentation), hay da bị mất màu (hypopigmentation). Các biến chứng này có thể xảy ra do chọn sai wavelength, pulse duration, fluence, không dùng hay dùng không đủ phương thức làm mát da, hay triệt lông trên da bị sạm nắng (do da sậm màu hơn, hút nhiều laser hơn từ đó dễ bị bỏng). Da bị thâm vẫn có thể xảy ra ngay khi chọn đúng các thông số điều trị, tuy nhiên các vết thâm này sẽ mang tính tạm thời và mờ dần theo thời gian, nhưng một khi da mất sắc tố thì có khả năng nó sẽ là vĩnh viễn 
  • Da bị sẹo/thẹo (scarring) do dùng fluence quá cao
  • Da khởi phát herpes infection, ví dụ như cold sores (giời leo) ở xung quanh miệng, hay các vùng khác như vùng kín
  • Lông bị kích thích và mọc dày, nhiều hơn (paradoxical hypertrichosis). Ví dụ như triệt lông măng/tơ ở vùng má, cằm nhưng lông mọc dày và đen hơn sau đó. Hiện tượng này khá phổ biến với da Châu Á, Nam Á, Trung Đông, sắc tộc Địa Trung Hải
Mất sắc tố da sau khi da bị bỏng do triệt lông
Lông mọc nhiều hơn sau triệt lông

Các biến chứng hiếm gặp 

Fox–Fordyce-like disease
nguồn ảnh
nguồn ảnh
  • Khá hiếm gặp
  • Xảy ra 3-4 tháng sau triệt lông ở vài vùng da. Nhưng trong đó có một trường hợp bệnh nhân bị ở tất cả các vùng triệt lông. 
  • Trong cả 3 trường hợp được ghi nhận bệnh nhân đều mắc chứng bệnh này ở vùng nách sau triệt lông. Điều này có thể cho thấy nách là nơi dễ mắc chứng bệnh này cao hơn các vùng khác
  • Nguyên nhân chính xác của bệnh hiện chưa được lý giải
  • Khả năng mắc phải biến chứng có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuỳ chỉnh laser cao hay thấp, mức độ viêm nhiểm sau laser, loại da, và nhiều yếu tố khác. 
  • Mẫu da phân tích cho thấy cấu trúc lỗ chân lông có sự biến đổi như sau:
    • Tuyến mồ hôi phình to (dilation of apocrine)
    • Phểu nang lông phình to (dilation of the follicular infundibulum)
    • Tăng sừng hoá quanh lỗ chân lông (follicular hyperkeratosis)
    •  Sự thâm nhập của tế bào lympho (Periductal lymphohistiocytic infiltrate)
nguồn ảnh

Viêm nang lông

nguồn ảnh

Viêm nang lông do triệt lông bằng laser
A – vùng triệt lông ngay sau điều trị, cho thấy da hơi đỏ, sưng nhẹ
B – 9 ngày sau triệt lông, xuất hiện các nốt mủ sưng đỏ
C – 15 ngày sau điều trị và 5 ngày sau khi dùng doxycycline. Số lượng nốt mủ sưng đã giảm, cùng với số lượng lông giảm đáng kể
D – 3 tháng sau điều trị, hoàn toàn không còn tình trạng viêm nang lông

  • Nguyên nhân viêm nang lông sau triệt lông hiện chưa rõ, tuy nhiên nếu nguyên nhân tương tự như tình trạng viêm nang lông thông thường thì có thể là do lông dày, xoăn, nhiều sợi lông mọc ra từ một lỗ chân lông. 
  • Các lông này sau khi laser sẽ được đẩy lên khỏi bề mặt da, nhưng trong quá trình lông đẩy lên lại đâm vào da gây ra tình trạng viêm nang lông. 
  • Hiện chưa có thống kê chính xác tình trạng viêm nang lông sau triệt lông xảy ra chủ yếu ở các loại da nào. Do đó các vùng da có lông dày, cứng, xoăn như vùng râu ở nam, vùng bikini sẽ có khả năng bị cao hơn. 
  • Để ngăn ngừa tình viêm nang lông, thuốc kháng viêm như steroid, doxycycline, cùng với việc vệ sinh bằng khăn một cách nhẹ nhàng ở vùng da điều trị sẽ góp phần giảm đi mức độ viêm nang lông.  

Cách phòng ngừa hay giảm thiểu biến chứng, phản ứng phụ không cần thiết

Nếu bạn là một chuyên viên spa, bạn nên lưu ý các điều sau:

  • Chỉ triệt lông cho các khách hàng phù hợp để triệt lông 
  • Tuỳ chỉnh thông số triệt lông phù hợp với từng loại da
  • Làm mát da trong quá trình điều trị
  • Bảo vệ mắt bằng kính chống tia laser kĩ càng
  • Chăm sóc da khách đúng cách trước và sau laser
  • Trước khi tiến hành điều trị, trao đổi với khách những phản ứng phụ cần có, cũng như các biến chứng ngoài mong đợi có thể xảy ra 
  • Ghi nhớ nguyên tắc WATCH (viết tắt từ các chữ cái đầu tiên của các điều cần nhớ khi thực hiện triệt lông)
Nguyên tắc WATCHTạm dịch 
Watch—the phototype, the hair, the skin, the site; 
Act—wavelength, pulse duration, fluence, spot, frequency, spot test (pay attention to pain); 
Think—wait and evaluate;
Correct—if necessary;
Home—give proper instructions.  
Quan sát – loại da (Fitzpatrick phototype), đặc điểm lông, da, vùng điều trị
Hành động – chọn wavelength, pulse duration, fluence, spot, frequency, spot test (chú ý mức độ đau của khách hàng)
Suy nghĩ – chờ và quan sát
Sửa lỗi – khi cần 
Chăm sóc tại nhà – cung cấp hướng dẫn chăm sóc da sau điều trị

Nếu bạn dự định triệt lông thì mình có các lời khuyên sau:

  • Lựa chọn spa uy tín có đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản về laser là cực kì quan trọng.
  • Cần biết loại da Fitzpatrick skin type của mình là gì. Thông thường da Châu Á vào khoảng skintype 4, những bạn trắng thì loại 3. Để xác định chính xác loại da của mình các bạn làm bài trắc nghiệm tại đây. Biết được loại da sẽ giúp bạn thảo luận với chuyên viên về tuỳ chỉnh đúng cho bạn, hay là check được tuỳ chỉnh bởi chuyên viên có phù hợp hay không. 
  • Hỏi kĩ thuật viên thông số được dùng cho bạn ngày hôm nay là gì, và trong lần tiếp theo bạn sẽ hỏi để biết chắc rằng thông số không bị chỉnh sai, hay tăng cao quá mức sau từng lần điều trị. Đơn giản nhất là chụp ảnh màn hình của máy để lưu lại thông số nhé. 
  • Trong quá trình đang được điều trị, nếu bạn thấy nóng hay đau ở mức 7-8 trên thang điểm từ 1-10, thì bạn nên yêu cầu kĩ thuật viên ngưng điều trị và giảm các tuỳ chỉnh lại. 
  • Vì kết quả triệt lông là vĩnh viễn, nên bạn cần suy nghĩ kĩ trước khi quyết định điều trị nhé
  • Yêu cầu list hướng dẫn chăm sóc da từ kỹ thuật viên nếu trong quá trình tư vấn bạn chưa được cung cấp hướng dẫn này
  • Trước mỗi lần điều trị, bạn nên tự hỏi là cơ thể mình hôm nay có gì thay đổi mà sẽ ngăn ngừa việc điều trị hay không. Nếu có, bạn đừng ngại hỏi chuyên viên triệt lông cho họ nhé. 

Cảm ơn bạn đã đọc bài 🥰

References

Clatici, V. G., Barinova, E., Voicu, C., Mihai, L., & Tatu, A. L. (2020). Complications of laser hair removal—How we could reduce them? Dermatologic Therapy33(4). https://doi.org/10.1111/dth.13518

Schuler, A., Veenstra, J., & Tisack, A. (2020). Folliculitis Induced by Laser Hair Removal: Proposed Mechanism and Treatment. The Journal of clinical and aesthetic dermatology, 13(5), 34–36.

Ibrahimi, O. A., Avram, M. M., Hanke, C. W., Kilmer, S. L., & Anderson, R. R. (2011). Laser hair removal. Dermatologic Therapy, 24(1), 94–107. https://doi.org/10.1111/j.1529-8019.2010.01382.x

Helou, J., Maatouk, I., Moutran, R., & Obeid, G. (2013). Fox–fordyce-like disease following laser hair removal appearing on all treated areas. Lasers in Medical Science28(4), 1205-1207. https://doi.org/10.1007/s10103-012-1263-4

RƯỢU THUỐC

Bài viết hôm nay mình sẽ cũng tìm hiểu về rượu thuốc trong việc điều trị mụn mọi người nhé. 

Mình không nhằm mục đích gây bất lợi trong việc kinh doanh của các đơn vị phân phối rượu thuốc. Mục tiêu chính là phân tích và so sánh giữa cơ chế peel da của rượu thuốc và peel hoá học chính thống . 

Rượu thuốc là gì? 

Rượu thuốc có nhiều loại nhưng nhìn chung thành phần căn bản bao gồm rượu (cồn), salicylic acid (BHA) và các thành phần rễ cây, dược thảo, hay các thành phần bí truyền khác. 

Được quảng cáo rầm rộ trên các facebook page, group, website bán hàng online, hay thậm chí còn được giới thiệu là được điều chế bởi các bác sĩ, hay từ bí kíp gia truyền, v..v. 

Giá sản phẩm dao động vào khoảng vài trăm nghìn đến cả triệu đồng cho một sản phẩm. Hình thức bán hàng từ cá nhân nhỏ lẻ, đến công ty, hay thậm chí rất chuyên nghiệp ví dụ như có cả team chăm sóc khách hàng. 

Sự khác nhau giữa thay da hoá học và rượu thuốc

Rượu thuốc hoạt động tương tự như peel hoá học trong việc trị mụn bằng cách làm bong da và khô còi mụn. Tuy nhiên, cơ chế lại khác nhau hoàn toàn. Chúng ta cùng so sánh để xem sự khác nhau này nhé. 

 Rượu thuốc     Peel hoá học chính thống
Thành phầnAlcohol: không rõ nồng độ, tỷ lệ bao nhiêu % salicylic acid (BHA): không rõ pH, tỷ lệ bao nhiêu %, chỉ số pKa*các thành phần khác: không rõ thành phần là những gì, không rõ độ đậm đặc, hay tỷ lệ %  AHAs, BHAs, Retinoid Acid, TCA, Jessner, v.vThành phần được liệt kê đầy đủ.Được phân theo thứ tự nồng độ từ thấp tới cao để chuyên viên có thể bắt đầu dùng peel độ đậm đặc thấp rồi sau đó tăng dần khi da đã quen với peel. VD: TCA peel 10%-100%Việc phân chia nồng độ % này cũng cho thấy độ sâu mà peel sẽ thẩm thấu và tác động đến da. Vì vậy an toàn hơn. VD: TCA 35-50% độ thẩm thấu chỉ đến lớp papillary dermis (lớp mạch máu ở trung bì, ngay bên dưới thượng bì) chứ không sâu hơn. Tuy nhiên khi tăng đến 100% thì thẩm thấu đến lớp reticular dermis (lớp mạch máu sâu nhất trung bì). 
Cơ sở khoa họcHiện tại chưa có cơ sở khoa học nghiên cứu về tính hiệu quả của rượu thuốc trong việc trị mụnDựa trên cơ sở khoa học nghiên cứu lâu năm 
Cơ chế hoạt độngLàm khô, bong tróc lớp da thượng bì Loại bỏ các lipid cấu trúc nên bức tường bảo vệ da  Phá vỡ liên kết giữa các tế bào da sừng ở lớp thượng bì hay sâu xuống tận lớp trung bì. Độ sâu hoạt động được phân loại rõ ràng dựa trên tỷ lệ % của acid trong dung dịch peel. Độ sâu hoạt động được thí nghiệm qua nhiều nghiên cứu khoa học nên có độ an toàn cao cho dù peel có thể thẩm thấu sâu hơn cả thuốc rượu. Các peel sẽ tự neutralise, hay được các chuyên viên/bác sĩ neutralise trong thời gian quy định bởi nhà sản xuất (khoảng 2-20 phút) hay khi đạt được clinical endpoints mong muốn. 
Tần suất sử dụngKhông có hướng dẫn sử dụng chung và thống nhất vì mỗi loại thuốc đều khác nhau. Tuỳ thuộc hướng dẫn sử dụng theo lời người tư vấnThông thường được sử dụng kéo dài thường xuyên trong vài tháng, và nhiều lần trong ngày. Vì vậy về lâu dài bức tường bảo vệ da sẽ bị hư tổn do quá trình bong tróc da thường xuyên hàng ngày, cộng thêm tác động phá huỷ lớp lipid kết nối các tế bào da. Da mất đi khả năng bảo vệ các tác nhân bên ngoài, mỏng dần, và trở nên nhạy cảm ngay cả khi bạn đã ngưng thuốc rượu.Mỗi loại peel đều có hướng dẫn sử dụng và protocol tương xứng để đạt kết quả tốt và an toàn nhất. Đối với peel serum: dùng từ 1-3 lần/tuần cho đến hàng ngày. Sử dụng 1-2 lần/ngàyĐối với peel tại spa: Số lần peel sẽ cách nhau từ 1 tuần cho đến vài tuần/tháng hay thậm chí chỉ 1 lần duy nhất là đủ. Không sử dụng liên tục trên da, vẫn tạo ra cơ chế thay da, nhưng trong sự kiểm soát chặt chẽ, vì vậy giảm thiểu tình trạng da nhạy cảm hay hư tổn do bị peel quá mức.
Tác dụng phụBỏng da sau peel: do quá nhiều lớp da bị lột đi nhanh hơn quá trình tái tạo của tế bào da. Nên nhớ trung bình 1 tế bào da cần 28 ngày để bắt đâu từ lớp tế bào đáy của thượng bì đến lớp sừng. Da mỏng, lộ mao mạch, dễ đỏ, nhạy cảm, dễ kích ứng: Khi da mất quá nhiều lớp tế bào sừng, và lipid của bức tường bảo vệ đã bị hoà tan hết, các tác nhân bên ngoài sẽ rất dễ dàng thẩm thấu nhanh vào da. Hiện tượng khi thoa một lớp sản phẩm lên da và da bị đỏ, hay dễ kích ứng hơn so với trước kia là do các hoạt chất trong sản phẩm thẩm thấu quá nhanh vào da. Điều này khiến da bị sốc và phản ứng lại bằng cách nóng, đỏ, rát, v..v.Kích ứng với thành phần trong rượu thuốc: vì thành phần không được liệt kê rõ ràng nên sẽ có nguy cơ cao cơ thể bạn dị ứng với các thành phần trong rượu nhưng lại không biết để lường trước. đây là điều khá nghiêm trọng vì dị ứng thành phần có thể gây hiện tự phù nề cả mặt, hay nổi mề đay, v..v Trong trường hợp phát hiện phù nề ngay ở các vùng không xức thuốc rượu bạn cần liên hệ ngay bác sĩ để khám nhé. Đỏ, nóng, bong da nhẹ, là các phản ứng phụ có thể gặp tuy nhiên chỉ mang tính tạm thời, không kéo dài, không gây tổn thương về sauDa không trở nên nhạy cảm, hay yếu đi về lâu dài mà lại khoẻ hơn vì quá trình peel da có kiểm soát thúc đẩy quá trình tái tạo da trong tần suất an toàn và hợp lý với chu trình sản sinh tế bào da mới. Hàng rào bảo vệ da không bị tổn thương do quá trình peel luôn được thiết kế một cách hợp lý và khoa học, tạo điều kiện cho da có đủ thời gian phục hồi trước khi bắt đầu peel tiếp theo. Kích ứng thành phần trong peel có thể được ngăn ngừa vì sản phẩm luôn được liệt kê chi tiết các thành phần bào chế bên trong. 

*Chỉ số pKa là chỉ số cho biết độ mạnh hay nhẹ của một acid, hay khả năng điện ly của acid thành các H+. Chỉ số pH chỉ cho biết độ đậm đặc của H+ trong dung dịch.

Ví dụ: 2 salicylic acid có cùng độ pH, tuy nhiên loại nào có pKa thấp hơn sẽ mạnh hơn loại còn lại.

Tuy nhiên nhà sản xuất thông thường không công bố chỉ số này cho người sử dụng. 

Phải làm gì khi lỡ dùng rượu thuốc? 

Mình thường thấy các bạn kiên trì xài hết liệu trình cho dù da đã rất rát sau một thời gian dùng rượu thuốc. Bởi vì các bạn quan niệm và cũng được tư vấn là nếu ngưng giữa chừng thì sẽ không hết được mụn mà da sẽ còn tồi tệ hơn tình trạng hiện tại. 

Tuy nhiên lời khuyên của mình là hãy ngưng sử dụng ngay khi bạn thấy các tình trạng đỏ, rát, nóng, sưng phù kéo dài. Dị ứng thành phần đôi khi xuất hiện sau 72 giờ chứ không ngay lập tức. Vì vậy các bạn nên lưu ý việc này nhé. 

Để xác định đó có phải là dị ứng hay không thì hãy nhớ câu thần chú “Heat – Redness – Swelling – Pain”. Đây là 4 triệu chứng khi da bị dị ứng. Nếu có sưng phù (swelling) thì chắc chắn là hiện tượng dị ứng. Heat (nóng) và Redness (đỏ) nếu xuất hiện nhưng giảm dần thì không phải dị ứng. Tuy nhiên nếu kéo dài và ngày càng tăng thì điều đó cho thấy bạn đang bị dị ứng sản phẩm. 

Khi da bạn bị tổn thương từ rượu thuốc, hay dị ứng thành phần hãy đi bác sĩ để được chẩn đoán và kê toa. Các bạn tuyệt đối không nên tuỳ ý mua thuốc người bán cung cấp vì người bán không phải bác sĩ, vì vậy không có kiến thức và quyền kê toa cho bạn kể cả thuốc uống hay xức. 

Sau quá trình bị tàn phá da sẽ cần một thời gian để hồi phục lại như ban đầu. Nguyên tắc cơ bản gồm có: tránh nắng, cung cấp ẩm, tái tạo bức tường bảo vệ, và trị mụn khoa học. 

Tuyệt đối tránh dùng thêm acid, peel, hay retinol (Vitamin A) trong gia đoạn da còn non, yếu và đang phục hồi vì bạn sẽ không muốn gây ra thêm tổn thương cho da.  

Hãy trị mụn một khách khoa học các bạn nhé ❤

Nguồn tham khảo:

O’Connor, A. A., Lowe, P. M., Shumack, S., & Lim, A. C. (2018). Chemical peels: A review of current practice. The Australasian Journal of Dermatology59(3), 171–181. https://doi.org/10.1111/ajd.12715

Castillo DE, & Keri JE. (2018). Chemical peels in the treatment of acne: patient selection and perspectives. Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatologyume 11, 365–372.

Nanma Nikalji, Kiran Godse, Jagdish Sakhiya, Sharmila Patil, & Nitin Nadkarni. (2012). Complications of medium depth and deep chemical peels. Journal of Cutaneous and Aesthetic Surgery5(4), 254–260. https://doi.org/10.4103/0974-2077.104913

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Lee, K. C., Wambier, C. G., Soon, S. L., Sterling, J. B., Landau, M., Rullan, P., & Brody, H. J. (2019). Basic chemical peeling: Superficial and medium-depth peels. Journal of the American Academy of Dermatology81(2), 313–324. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2018.10.079

DA MỤN: các câu hỏi thường gặP

Quá trình hình thành mụn bắt đầu từ các mụn ẩn li ti microcomedones (closed và open comedones) không viêm, sau đó chuyển thành mụn viêm, sưng đỏ, và có có mủ (papule – pustule) và cuối cùng là các mụn viêm to (nodule và cyst) Mụn viêm sưng đỏ ư? Cứ nặn đi đã … Continue reading “DA MỤN: các câu hỏi thường gặP”

Quá trình hình thành mụn bắt đầu từ các mụn ẩn li ti microcomedones (closed và open comedones) không viêm, sau đó chuyển thành mụn viêm, sưng đỏ, và có có mủ (papule – pustule) và cuối cùng là các mụn viêm to (nodule và cyst)

Mụn viêm sưng đỏ ư? Cứ nặn đi đã rồi tính sau! 

Mụn viêm sẽ có hai loại: có mủ (pustule) và không mủ (papule). Bạn chỉ được nặn loại mụn viêm đã có mủ đầu trắng. Loại mụn viêm không có mủ đầu trắng hoàn toàn không được nặn đến. 

Lí do đơn giản là vì mụn viêm không đầu là một khối sưng, đầy mạch máu, nên khi bạn cố nặn chỉ là lấy máu ra và hoàn toàn không giúp mụn xẹp đi. 

Mụn đã có đầu trắng có thể nặn. Bởi vì chất mủ trắng cho thấy mụn đã được hệ miễn dịch của da can thiệp để chống lại các vi khuẩn gây mụn P. Acnes (hay C. Acnes). Chất dịch màu trắng là các neutrophils chết đi trong quá trình chiến đấu chống lại vi khuẩn P.acnes. Khi bạn dùng kim chích để mở đầu mụn và lấy dịch trắng ra, bạn nên thoa một lớp serum trị mụn có tính antibacterial, hoặc đơn giản hơn là Bepanthen. Điều này giúp mụn mau lành và chống tái viêm nhiễm. 

Tuy nhiên, việc đầu tiên khi bạn thấy các nốt mụn vừa mới nổi lên và sưng đỏ là xức ngay các loại gel trị mụn để kìm hãm quá trình sưng viêm, diệt bacteria trong mụn. Điều này là rất quan trọng vì mức độ viêm của mụn sẽ quyết định mức độ sẹo để lại sau đó. Các mụn để lại sẹo rỗ là do mức độ viêm sâu xuống lớp trung bì khiến một phần lớn cấu trúc da trung bì bị mất đi. Ngoài ra các gel trị mụn này còn giúp khô nhân mụn mà đôi khi bạn không cần nặn vì mụn tự khô và rớt còi đi.  

Các sản phẩm spot treatment cho mụn mình từng dùng qua và thấy hiệu quả là 

Dầu gây ra mụn, nên loại bỏ hết dầu sẽ hết mụn!

Đúng. Nếu phương cách bạn loại bỏ dầu là dùng thuốc uống Vitamin A do bác sĩ bạn cung cấp. Khi dùng thuốc này, tất cả các tuyến dầu trên cơ thể bạn sẽ ngưng hoạt động. Móng tay/chân, tóc và da bạn sẽ trở nên rất khô và dễ tổn thương vì hoàn toàn không có lớp dầu bảo vệ. 

Sai. Nếu bạn sử dụng các loại sửa rữa mặt mạnh nhằm loại bỏ hết dầu trên da. Da mụn cần một sự cân bằng giữa lượng dầu và nước, và sự cải thiện chất lượng của dầu. Điều tối kị trong chữa trị mụn là cố gắng làm khô đi lượng dầu trên da. Các loại sữa rửa mặt làm sạch dầu trên da đồng thời cũng gây ra tổn hại cho các chất dầu tốt vốn nên được giữ lên giữa các tế bào da, nhằm giữ lại độ ẩm của da. Rửa mặt bằng các loại sữa rửa mặt này đồng nghĩa với việc da sẽ mất đi lượng độ ẩm cần thiết cho hoạt động tẩy da chết tự nhiên của da. Điều này dẫn đến da chết không thể tự mất đi, mà đóng thành nhiều lớp và rơi vào các lỗ chân lông, gây tắc nghẽn và sinh thêm mụn. 

Bạn nên chọn loại sửa rửa mặt có chất tạo bọt nhẹ để có thể vừa rửa sạch da nhưng lại không làm mất đi độ ẩm của da. Sửa rửa mặt phù hợp với da sẽ không để lại cảm giác da căng, hay khô sau khi rửa cho dù bạn rửa 2-3 lần liên tục. 

Các máy rửa mặt giúp cho da được rửa sạch hơn. Tuy nhiên mụn viêm, mủ không nên  dùng vì có thể gây bể mụn và sự lây lan qua các vùng lân cận. 

Quan trọng nhất là luôn luôn rửa mặt 2 lần vào buổi tối. Lần rửa đầu tiên giúp loại bỏ các bụi bẩn, makeup trên da. Lần rửa thứ 2 giúp thông thoáng các lỗ chân lông và làm sạch các chất dơ mà lần rửa đầu tiên còn sót lại. 

Vì sao một người da dầu nhưng lại hoàn toàn không bị mụn, trong khi mình lại bị mụn?

Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác chứ không chỉ vì lượng dầu trên da. 

Khi so sánh với da khoẻ, da mụn có các sự khác biệt về lượng dầu, P.acne, sừng hoá trong lỗ chân lông. Tất cả các nguyên nhân này dẫn đến một tình trạng chung là VIÊM (inflammation), từ đó dẫn đến mụn.

a. Lượng dầu:
  • Hàm lượng các chất squalene, linoleic acid, và fatty acid bị mất cân bằng
  • Lượng oxi-hoá squalene cao, gây ra viêm và sự hình thành mụn ẩn. Đồng thời lượng Vitamin E – chất chống antioxidant lại thấp ở da mụn, khiến khả năng ngưng quá trình oxi-hoá của squalene kém hiệu quả. 
  • Giảm linoleic acid (6% thay vì 45%) cộng với thay đổi trong tỉ lệ chất fatty acids. Các fatty acids lại đóng vai trò trong việc điều phối viêm, sừng hoá lỗ chân lông, khả năng bảo vệ da, dẫn đến việc tăng TEWL (Trans-epidermal water loss – nước trong da bốc hơi dẫn đến da thiếu ẩm)
b. Vi khuẩn P.acne:
  • Da khoẻ mạnh và da thường đều có sự hiện diện của P.acne bacteria. Tuy nhiên, da mụn có chủng P.acne khác với da khoẻ mạnh. 
  • P.acne đóng vai trò trong việc viêm sưng của mụn. 
  • Vi khuẩn này sống tốt trong môi trường không có không khí. Vì vậy khi lỗ chân lông bị sừng hoá sẽ là môi trường lý tưởng cho chúng phát triển.
c. Sừng hoá trong lỗ chân lông
  • Gây ra bởi việc tăng lượng dầu, các tế bào da đóng lại trong tuyến dầu và lỗ chân lông, giảm linoleic acid, tăng sự oxi-hoá của squalene, tăng androgen, P.acnes. 
d. Di truyền

Đây cũng là một yếu tố khá quan trọng, vì nếu người thân trong gia đình bạn bị mụn thì bạn sẽ có khả năng bị mụn. 

Peel da sẽ trị được mụn! 

Đúng. Nếu bạn peel da đúng cách và peel bạn sử dụng phù hợp với độ khoẻ của da bạn. Đồng thời sử dụng kết hợp các sản phẩm và phương pháp điều trị phù hợp trong quá trình peel. Tuy nhiên, tuỳ vào cấp độ nặng nhẹ của mụn mà bạn có nên peel hay không. Đối với các mụn khá nặng thì bạn nên cân nhắc việc dùng thuốc trị mụn do bác sĩ kê đơn thay vì lạm dụng peel. 

Sai. Nếu bạn:

  • Không dưỡng (prep) da trước khi peel, khiến da bị sốc, kích ứng, hiệu quả sau peel thấp hoặc không mong muốn (phỏng da chẳng hạn)
  • Dùng peel trong thời gian quá dài và thường xuyên. 
  • Dùng nồng độ peel quá cao ngay lúc ban đầu thay vì bắt đầu từ liều lượng peel thấp trước sau đó tăng dần nồng độ. 

Các dấu hiệu cho thấy bạn peel không đúng cách: 

  • Da rát đỏ, sần, khô, dễ kích ứng trong thời gian dài sau peel và không có dấu hiệu thuyên giảm hay tự hồi phục. 
  • Mặt sưng ở những vị trí không peel. Ví dụ bạn peel ở trán, gò má, cằm nhưng lại sưng toàn bộ gương mặt bao gồm mí mắt, hốc mắt đến mức độ không mở mắt lên được. Dấu hiệu sưng toàn bộ gương mặt cho thấy bạn dị ứng với thành phần trong peel và lúc này bạn sẽ cần uống thuốc do bác sĩ chỉ định (không phải từ các bạn nào giới thiệu, hay người không có bằng cấp nhé vì thuốc không phải supplement bạn mua trong siêu thị mà ai cũng có thể chỉ bạn uống thuốc gì được). 

4 dấu hiệu chính giúp bạn nhận ra DỊ ỨNG là: Heat (Nóng) – Redness (Đỏ) – Swelling (Sưng) – Pain (Đau)

Ăn uống như thế nào khi bị mụn?

Nhiều bài nghiên cứu gần đây cho thấy rằng sữa và các chế phẩm từ sữa có liên quan đến sự hình thành mụn. Đặc biệt là sữa skim milk có khả năng làm mụn trở nên nặng hơn. Nghiên cứu năm 2005 cho thấy những phụ nữ uống hơn 2 ly sữa skim milk hàng ngày, có nguy cơ bị mụn cao hơn 44% . Các bài nghiên cứu khác cho thấy các loại sữa nói chung, và thậm chí kem🍦 cũng làm tăng nguy cơ bị mụn. Tuy nhiên, nghiên cứu không cho thấy có mối liên hệ giữa tình trạng mụn với phô-mai, hay ya-ua.

Ngoài ra chế độ ăn uống chứa nhiều đường có sự ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ trầm trọng của mụn. Một bài nghiên cứu ở Úc, và một bài khác ở Hàn Quốc cho thấy rằng khi giảm lượng đường trong chế độ ăn uống hàng ngày, các tuyến dầu trong da trở nên nhỏ hơn, mức androgen giảm đi và tình trạng mụn được cải thiện rõ rệt. 

Chúng ta thường nghe nói khi bị mụn, bạn nên ăn hay uống dầu cá, probiotics, chất chống oxi-hoá, và kẽm. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu khẳng định sự hiệu quả của các thực phẩm hỗ trợ này chưa nhiều. 

Đột ngột bị mụn trong khi trước giờ không hề bị?

Vì mụn còn được gây ra bởi các nguyên nhân khác như oxidative stress. Tức là khi bạn bị stress hay áp lực công việc và cuộc sống nặng nề, da bạn sẽ phải chịu các ảnh hưởng gián tiếp và mụn sẽ xuất hiện. Trong bài viết sau mình sẽ cùng tìm hiểu mối liên hệ giữa stress và mụn nhé. 

 Phác đồ điều trị mụn

Dưới đây là phát đồ điều trị mụn được đề xuất bởi Zaenglein et al. (2014). Theo như phát đồ này, thì khi bạn rơi vào tình trạng Severe (nghiêm trọng), thì bạn nên đến bác sĩ để được lời khuyên về thuốc uống như kháng sinh, Vitamin A, thuốc ngừa thai (dành cho các bạn nữ), steroid, hay kết hợp các thuốc thoa ngoài da chứa khánh sinh, Vitamin A, hay Benzoyl Peroxide. 

Lời nhắn nhủ: mình từng thấy qua các bạn bị mụn khá nặng tìm đến các spa không chuyên và được cho thuốc rượu hay những loại kem không rõ thành phần và nguồn gốc. Vừa mất tiền mà còn hỏng cả da rất thương. Dù bạn không biết chuyên môn về da, hay mỹ phẩm, hãy kiểm tra nguồn gốc và thành phần sản phẩm trước khi dùng lên mặt nhé. Ngoài ra, việc nặn mụn vô tội vạ bằng cách lể mụn ra sẽ dẫn đến tình sạng sẹo lõm sau khi mụn được điều trị. Nguyên tắc căn bản và quan trọng nhất để không bị sẹo mụn chính là can thiệp càng sớm càng tốt nhằm giảm thiểu sưng viêm ở tầng trung bì của da, nơi chứa toàn bộ cấu trúc collagen, elastin, mạch máu, v..v cho việc tái cấu trúc da sau tổn thương. 

Hi vọng bài viết đã cung cấp cho các bạn những thông tin hữu ích nhé 🙂

Nguồn tham khảo:

Zouboulis, C. C., Katsambas, A. D., & Kligman, A. M. (2014). Pathogenesis and treatment of acne and rosacea. Springer.

Zaenglein, A. L., Pathy, A. L., Schlosser, B. J., Alikhan, A., Baldwin, H. E., Berson, D. S., Bowe, W. P., Graber, E. M., Harper, J. C., Kang, S., Keri, J. E., Leyden, J. J., Reynolds, R. V., Silverberg, N. B., Stein Gold, L. F., Tollefson, M. M., Weiss, J. S., Dolan, N. C., Sagan, A. A., … Bhushan, R. (2016). Guidelines of care for the management of acne vulgaris. Journal of the American Academy of Dermatology, 74(5), 945–973. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2015.12.037

Lee, K. C., Wambier, C. G., Soon, S. L., Sterling, J. B., Landau, M., Rullan, P., & Brody, H. J. (2019). Basic chemical peeling: Superficial and medium-depth peels. Journal of the American Academy of Dermatology81(2), 313–324. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2018.10.079

O’Connor, A. A., Lowe, P. M., Shumack, S., & Lim, A. C. (2018). Chemical peels: A review of current practice. The Australasian Journal of Dermatology59(3), 171–181. https://doi.org/10.1111/ajd.12715

Melibary, Y. T., Alkeraye, S., Alnutaifi, K. A., Melibary, N. T., Alsuwaidi, M. K., & Algzlan, H. I. (2019). Occasional acne; an acne variant. Clinical, cosmetic and investigational dermatology, 12, 219–222. https://doi.org/10.2147/CCID.S199991

Zari, S., & Alrahmani, D. (2017). The association between stress and acne among female medical students in Jeddah, Saudi Arabia. Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatology10, 503–506. https://doi.org/10.2147/CCID.S148499

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Pondeljak, N., & Lugović-Mihić, L. (2020). Stress-induced Interaction of Skin Immune Cells, Hormones, and Neurotransmitters. Clinical Therapeutics42(5), 757–770. https://doi.org/10.1016/j.clinthera.2020.03.008

SẢN PHẨM TRỊ THÂM NÁM

Sau bài viết trước về thành phần trị nám hiệu quả, hôm nay mình muốn giới thiệu đến mọi người những sản phẩm mình có cơ hội sử dụng cho bản thân cũng như cho các khách hàng của mình từ kinh nghiệm điều trị nhé. 

Hai loại sản phẩm chủ yếu cần có trong việc chữa trị thâm, nám bao gồm:

  • Kem chống nắng
  • Serum và Kem điều trị có tính tẩy da chết và ức chế enzyme tyrosinase 

I. KEM CHỐNG NẮNG

Các bạn có thể dùng các loại có SPF30+, PA++++. Chỉ số PA thì tuỳ vào nguồn gốc của sản phẩm do regulation của mỗi nước khác nhau. Các sản phẩm của Nhật và Hàn thường sẽ có thêm chỉ số PA. Chỉ số PA cho biết khả năng chống tia UVA của sản phẩm. Tuy nhiên, không nên xem sản phẩm có chỉ số PA là tốt hơn các sản phẩm không có chỉ số PA trong khả năng chống nắng nhé mọi người. 

Cá nhân mình sử dụng 2 lớp chống nắng hàng ngày:  một lớp dạng kem, và một lớp dạng bột. Vì da mình khá dầu nên lớp bột cũng giúp phần nào trong việc giữ cho da bớt bóng nhờn. 

Với da dầu La Roche-Posay khá phù hợp vì dùng sau vài giờ thì mặt khá ẩm và có bóng dầu nhẹ. Còn da dầu thì nên tránh xa nha vì mình dùng khoảng vài tiếng thôi mà da ướt dầu kinh khủng. Các loại khác trong ảnh không bóng và rít nên khá phù hợp cho da Oily-Combination.

II. SERUM VÀ KEM DƯỠNG 

Sản phẩm dưỡng da được chia theo 2 loại: cosmeceutical và cosmetic. Vậy sự phân loại này là như thế nào? 

COSMECEUTICALS

Cosmeceuticals dùng để chỉ các chất hay sản phẩm có khả năng can thiệp vào các hoạt động sinh lý của da. Có độ đậm đặc (concentration) cao. Chứa đa phần là các active ingredients (vitamin A, B,C, v.v.). 

Để mua được các sản phẩm này, các bạn cần đến các spa, trung tâm chăm sóc da, hay từ các phòng mạch bác sĩ. Vì đặc tính của sản phẩm có độ đậm đặc cao, và nhiều active ingredients, nên cần có sự tư vấn và hướng dẫn sử dụng từ các chuyên viên về da nhằm tránh việc sử dụng không đúng cách, dẫn đến kích ứng da hay phản ứng phụ không cần thiết. 

Một vài thương hiệu cosmeceutical mình từng dùng và khá thích gồm có Mesoestetic, Medik8, DMK, Synergie, Intraceutical, Dermalogica, Hydropeptide. 

Dưới đây là các sản phẩm mình từng dùng qua và cho kết quả rất khả quan.

COSMETICS

Cosmetics dùng để nói chung về các thương hiệu mỹ phẩm bạn có thể mua dễ dàng ở các trung tâm mua sắm hay siêu thị. Các sản phẩm này sẽ có độ đậm đặc hoặc hàm lượng chất active ingredients thấp hơn sản phẩm cosmeceutical. Khả năng gây phản ứng phụ vì vậy sẽ thấp hơn. Các thương hiệu được xem là cosmetic dòng premium gồm có SKII, Sisley, Cle De Peu, La Prairie, Lamer, Lancome, Shiseido, Chanel, Dior, v..v.

Bản thân mình không dùng các sản phẩm cosmetic trong các bước skincare hằng ngày nên sẽ không có nhiều recommendations từ các brand này. Một phần do các nhãn hiệu premium giá thành sản phẩm khá cao, nhưng active ingredients có thể không thể so sánh với cosmeceutical nên mình thiên dùng về cosmeceutical hơn. 

Ngoài ra, các thương hiệu tầm trung như La Roche Posay, Avene, Vichy,.. giá sản phẩm mềm hơn nhưng chất lượng sản phẩm khá tốt. 

Gần đây có sự góp mặt của thương hiệu Ordinary trong thị trường skincare. Một điều khá thú vị về brand này là các sản phẩm có giá cực kì dễ chịu, nhưng thành phần lại tương tự các sản phẩm của cosmeceutical. Mình từng dùng qua một vài sản phẩm của Ordinary, có loại thì dùng khá ổn, có loại bị kích ứng ngay và luôn hơ hơ. Nên lời khuyên chung trong việc dùng các sản phẩm có chứa active ingredients là bắt đầu với độ đậm đặc (chỉ số % của một chất) thấp, dùng 1-2 ngày một tuần, sau đó sẽ tăng dần độ đậm đặc và số ngày sử dụng. 

Để trị thâm, nám, điều quan trọng hàng đầu là sự kiên nhẫn và chống nắng mọi lúc mọi nơi. Hi vọng các bạn nhận được thông tin hữu ích từ bài viết của mình. 

Các bạn đã dùng qua sản phẩm trị thâm/nám nào hiệu quả không? Nếu có thì hãy chia sẻ với mình nhé! 

Nguồn tham khảo:

HOLLINGER, J. C., ANGRA, K., & HALDER, R. M. (2018). Are Natural Ingredients Effective in the Management of Hyperpigmentation? Journal of Clinical & Aesthetic Dermatology11(2), 28–37.

Plensdorf, S., Livieratos, M., & Dada, N. (2017). Pigmentation Disorders: Diagnosis and Management. American Family Physician96(12), 797–804.

Chan, I. L., Cohen, S., da Cunha, M. G., & Maluf, L. C. (2019). Characteristics and management of Asian skin. International Journal of Dermatology58(2), 131–143. https://doi.org/10.1111/ijd.14153

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

Yin, N. C., & McMichael, A. J. (2014). Acne in patients with skin of color: practical management. American Journal of Clinical Dermatology15(1), 7–16. https://doi.org/10.1007/s40257-013-0049-1