SẢN PHẨM TRỊ THÂM NÁM

Sau bài viết trước về thành phần trị nám hiệu quả, hôm nay mình muốn giới thiệu đến mọi người những sản phẩm mình có cơ hội sử dụng cho bản thân cũng như cho các khách hàng của mình từ kinh nghiệm điều trị nhé. 

Hai loại sản phẩm chủ yếu cần có trong việc chữa trị thâm, nám bao gồm:

  • Kem chống nắng
  • Serum và Kem điều trị có tính tẩy da chết và ức chế enzyme tyrosinase 

I. KEM CHỐNG NẮNG

Các bạn có thể dùng các loại có SPF30+, PA++++. Chỉ số PA thì tuỳ vào nguồn gốc của sản phẩm do regulation của mỗi nước khác nhau. Các sản phẩm của Nhật và Hàn thường sẽ có thêm chỉ số PA. Chỉ số PA cho biết khả năng chống tia UVA của sản phẩm. Tuy nhiên, không nên xem sản phẩm có chỉ số PA là tốt hơn các sản phẩm không có chỉ số PA trong khả năng chống nắng nhé mọi người. 

Cá nhân mình sử dụng 2 lớp chống nắng hàng ngày:  một lớp dạng kem, và một lớp dạng bột. Vì da mình khá dầu nên lớp bột cũng giúp phần nào trong việc giữ cho da bớt bóng nhờn. 

Với da dầu La Roche-Posay khá phù hợp vì dùng sau vài giờ thì mặt khá ẩm và có bóng dầu nhẹ. Còn da dầu thì nên tránh xa nha vì mình dùng khoảng vài tiếng thôi mà da ướt dầu kinh khủng. Các loại khác trong ảnh không bóng và rít nên khá phù hợp cho da Oily-Combination.

II. SERUM VÀ KEM DƯỠNG 

Sản phẩm dưỡng da được chia theo 2 loại: cosmeceutical và cosmetic. Vậy sự phân loại này là như thế nào? 

COSMECEUTICALS

Cosmeceuticals dùng để chỉ các chất hay sản phẩm có khả năng can thiệp vào các hoạt động sinh lý của da. Có độ đậm đặc (concentration) cao. Chứa đa phần là các active ingredients (vitamin A, B,C, v.v.). 

Để mua được các sản phẩm này, các bạn cần đến các spa, trung tâm chăm sóc da, hay từ các phòng mạch bác sĩ. Vì đặc tính của sản phẩm có độ đậm đặc cao, và nhiều active ingredients, nên cần có sự tư vấn và hướng dẫn sử dụng từ các chuyên viên về da nhằm tránh việc sử dụng không đúng cách, dẫn đến kích ứng da hay phản ứng phụ không cần thiết. 

Một vài thương hiệu cosmeceutical mình từng dùng và khá thích gồm có Mesoestetic, Medik8, DMK, Synergie, Intraceutical, Dermalogica, Hydropeptide. 

Dưới đây là các sản phẩm mình từng dùng qua và cho kết quả rất khả quan.

COSMETICS

Cosmetics dùng để nói chung về các thương hiệu mỹ phẩm bạn có thể mua dễ dàng ở các trung tâm mua sắm hay siêu thị. Các sản phẩm này sẽ có độ đậm đặc hoặc hàm lượng chất active ingredients thấp hơn sản phẩm cosmeceutical. Khả năng gây phản ứng phụ vì vậy sẽ thấp hơn. Các thương hiệu được xem là cosmetic dòng premium gồm có SKII, Sisley, Cle De Peu, La Prairie, Lamer, Lancome, Shiseido, Chanel, Dior, v..v.

Bản thân mình không dùng các sản phẩm cosmetic trong các bước skincare hằng ngày nên sẽ không có nhiều recommendations từ các brand này. Một phần do các nhãn hiệu premium giá thành sản phẩm khá cao, nhưng active ingredients có thể không thể so sánh với cosmeceutical nên mình thiên dùng về cosmeceutical hơn. 

Ngoài ra, các thương hiệu tầm trung như La Roche Posay, Avene, Vichy,.. giá sản phẩm mềm hơn nhưng chất lượng sản phẩm khá tốt. 

Gần đây có sự góp mặt của thương hiệu Ordinary trong thị trường skincare. Một điều khá thú vị về brand này là các sản phẩm có giá cực kì dễ chịu, nhưng thành phần lại tương tự các sản phẩm của cosmeceutical. Mình từng dùng qua một vài sản phẩm của Ordinary, có loại thì dùng khá ổn, có loại bị kích ứng ngay và luôn hơ hơ. Nên lời khuyên chung trong việc dùng các sản phẩm có chứa active ingredients là bắt đầu với độ đậm đặc (chỉ số % của một chất) thấp, dùng 1-2 ngày một tuần, sau đó sẽ tăng dần độ đậm đặc và số ngày sử dụng. 

Để trị thâm, nám, điều quan trọng hàng đầu là sự kiên nhẫn và chống nắng mọi lúc mọi nơi. Hi vọng các bạn nhận được thông tin hữu ích từ bài viết của mình. 

Các bạn đã dùng qua sản phẩm trị thâm/nám nào hiệu quả không? Nếu có thì hãy chia sẻ với mình nhé! 

Nguồn tham khảo:

HOLLINGER, J. C., ANGRA, K., & HALDER, R. M. (2018). Are Natural Ingredients Effective in the Management of Hyperpigmentation? Journal of Clinical & Aesthetic Dermatology11(2), 28–37.

Plensdorf, S., Livieratos, M., & Dada, N. (2017). Pigmentation Disorders: Diagnosis and Management. American Family Physician96(12), 797–804.

Chan, I. L., Cohen, S., da Cunha, M. G., & Maluf, L. C. (2019). Characteristics and management of Asian skin. International Journal of Dermatology58(2), 131–143. https://doi.org/10.1111/ijd.14153

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

Yin, N. C., & McMichael, A. J. (2014). Acne in patients with skin of color: practical management. American Journal of Clinical Dermatology15(1), 7–16. https://doi.org/10.1007/s40257-013-0049-1

THÀNH PHẦN DƯỠNG DÀNH CHO DA THÂM, NÁM

Bài viết hôm nay tóm tắt các thành phần chữa trị thâm nám an toàn và hiệu quả.

Xin chào mọi người!

Trong bài viết lần trước về nám melasma mình chưa có dịp bàn đến các thành phần mỹ phẩm có thể giúp da cải thiện thâm nám hiệu quả. Vì vậy trong bài viết lần này mình sẽ viết đôi điều về các thành phần này nhé. 

Trong bài trước mình có tóm sơ quá trình hình thành nám là do các melanocyte sản xuất ra các túi melanosome chứa hạt melanin, các túi melanosome này sau đó được chuyển phát đến các hộ keratinocytes xung quanh. 

Có một cụm từ gọi là “Epidermal Melanin-Unit”, nôm na là đơn vị sắc tố da. Đơn vị này được quy định và bao gồm: 1 melanocyte, 30-40 keratinocyte, 1 langerhans cells liên kết với nhau bởi các xúc tua của melanocyte. 

Trung bình mỗi 1 melanocyte có thể chuyển melanin đến khảong 30-40 hộ dân cư keratinocyte trong xóm 😆

Trong các thành phần trị nám, thường thấy nhất là các chất có chức năng kìm hãm ezyme tyrosinase. Vậy tyrosinase là gì? 

TYROSINASE

Tyrosinase là một chất enzyme đóng vai trò cực kì quan trọng trong toàn bộ chu trình hình thành sắc tố. Các túi melanosome trong bước phát triển đầu tiên cần có enzyme tyrosinase để có thể chuyển hoá tyrosine thành L-DOPA, chuyển hoá L-DOPA thành DOPA-quinone, DOPA-quinone nếu có sự hiện diện của cystine chuyển hoá thành pheomelanin. Nếu không có sự hiện diện của cystine, thì sẽ chuyển thành eumelanin.  

Quá trình chuyển hoá của tyrosine thành melanin (nguồn)
MELANOSOME

Các chất trong mỹ phẩm cũng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của melanosome. Chu trình này tóm gọn trong hình như sau: 

  • Giai đoạn 1: Một túi rỗng được hình thành trong melnocyte. 
  • Giai đoạn 2: Túi rổng bắt đầu hơi dài ra thành hình bầu dục. Hình thành các sợi “fibrillar matrix” (tưởng tượng nó như dây phơi quần áo cho dễ hình dung) để cho hạt melanin sau này bám vào. Thời điểm này bắt đầu có sự xuất hiện của em tyrosinase. Em tyrosinase sẽ bắt tay vào chuyển hoá tyrosine thành L-DOPA như vừa bàn bên trên
  • Giai đoạn 3: bắt đầu sản xuất hạt melanin theo dạng hàng loạt, các hạt melanin lần lượt được gắn lên các sợi dây phơi đồ. 
  • Giai đoạn 4: Toàn bộ melanosome được no nê đầy ắp các hạt melanin (nên nhìn trong hình nó rất chi là đen) 
Quá trình phát triển của melanosome (nguồn)
CÁC CHẤT LÀM SÁNG DA

Bản bên dưới liệt kê khá chi tiết các chất được dùng trong sản phẩm trị thâm, nám cùng với cách thức hoạt động của chúng trong việc ngăn ngừa quá trình tạo sắc tố da. Mọi người xem tham khảo nhé. 

Trong bài tuần sau mình sẽ giới thiệu một vài sản phẩm trị thâm nám mà bản thân đã sử dụng qua, hoặc nhận được phản hồi tốt từ các khách hàng của mình cho mọi người nhé!

Stay tuned! 💕

References:

Cichorek, M., Wachulska, M., & Stasiewicz, A. (2013). Heterogeneity of neural crest-derived melanocytes. Open Life Sciences, 8(4). https://doi.org/10.2478/s11535-013-0141-1

Chaowattanapanit, S., Silpa-archa, N., Kohli, I., Lim, H. W., & Hamzavi, I. (2017). Postinflammatory hyperpigmentation: A comprehensive overview. Journal of the American Academy of Dermatology, 77(4), 607-621. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2017.01.036

Sahu PJ, Singh AL, Kulkarni S, Madke B, Saoji V, Jawade S. (2020). Study of oral tranexamic acid, topical tranexamic acid, and modified Kligman’s regimen in treatment of melasma. Journal of Cosmetic Dermatology. 19(6):1456-1462. doi:10.1111/jocd.13430

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

Plensdorf, S., Livieratos, M., & Dada, N. (2017). Pigmentation Disorders: Diagnosis and Management. American Family Physician96(12), 797–804.

Nám – MELASMA

Nám được đề cập trong bài viết hôm nay có từ tiếng anh chuyên môn là Melasma. 

Trước khi bàn về một số phương thức trị nám không hiệu quả trên thị trường hiện nay, trước hết chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem khi da bị nám, thì điều gì xảy ra bên dưới da nhé. 

Nám melasma thông thường ảnh hưởng phụ nữ, vẫn có thể xảy ra ở nam giới nhưng khá hiếm. Thường xuất hiện dưới dạng mảng da sậm màu, khá to, ở vị trí trán, đối xứng hai bên má, môi trên, và cằm.

Ảnh nám da melasma các bạn có thể xem tại đây

SẮC TỐ DA 

Các nguyên tố nằm trong chu trình tạo sắc tố da bao gồm:

  • Melanocyte (tế bào hắc tố): tạo ra melanosome chứa melanin. Có cấu trúc dạng xúc tua. Nằm ở basal layer (lớp đáy của thượng bì).
  • Melanosome: túi nhỏ được tạo ra bên trong tế bào melanocyte, chứa nhiều hạt melanin, sẵn sàng được chuyển tới các keratinocyte (tế bào da) xung quanh 
  • Melanin (hắc tố da): pheumelanin màu vàng/đỏ hay eumelanin nâu đậm/đen. Loại và số lượng melanin được tạo ra sẽ quyết định màu da của bạn. Ví dụ da nâu thì có eumelanin, và da trắng thì sẽ có pheumelanin.

Quá trình hình thành melanin trong keratinocyte nôm na như sau cho dễ hiểu: 

Melanocyte sẽ sản sinh ra các túi melanosome, sau đó chuyển phát nhanh các túi melanosome này đến các hộ dân cư keratinocyte (tế bào da) xung quanh, sau đó các melanosome sẽ được các hộ dân cư melanocyte này nuốt vào bụng. Và vì thế mà keratinocyte có sắc tố bên trong mình. 

Qúa trình chuyển phát melanin từ melanocyte tới keratinocyte (nguồn ảnh)

NGUYÊN NHÂN NÁM

Các nhân tố chính gây ra melasma hay khiến melasma trở nặng hơn bao gồm: tia UV, hormon, và di truyền 

UVR

UVR: ánh nắng mặt trời có thể kích thích sự sản sinh melanin của các tế bào hắc tố bằng cách tạo ra nhiều các tác nhân oxy-hoá (Reactive oxygen species – ROS) tiêu biểu là nitric oxide (NO). Các tia UVR tác động lên keratinocyte và fibroblast, khiến 2 tế bào này tiết ra chất gọi là stem cell factor (SCF), một ligand cho enzyme tyrosine kinase bám vào và từ đó kích thích sự tăng trưởng của tế bào melanocyte. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy có một sự gia tăng giải mã mRNA trên đoạn gene liên quan sự sản sinh của tế bào melanocyte tại vùng da bị nám. Bên cạnh đó, phơi nắng cũng kích thích tế bào keratinocyte tiết ra VEGF, kích thích sự tăng trưởng số lượng mạch máu mới, tăng cường nuôi dưỡng các tế bào melanocyte xung quanh. 

GENE DI TRUYỀN

Các nghiên cứu cũng cho thấy 55-64% các trường hợp bị melasma có tiền sử người thân trong gia đình bị melasma trước đó. Điều này cho thấy có mối liên hệ khá cao giữa gene di truyền và khả năng bị nám. 

HORMONE

Hormone góp phần khá lớn vào sự hình thành melasma nên melasma thường xuất hiện sau khi sinh, do uống thuốc ngừa thai, hay đang phải điều trị bằng các phương thức nội tiết tố khác

CẤU TRÚC DA BỊ MELASMA 

  • Thượng bì:
    • số lượng melanin được sản sinh tăng rõ rệt ở tất cả các lớp của thượng bì
    • lớp basement membrane (liên kết giữa thượng và trung bì) bị phá vỡ, mỏng hơn, góp phần vào sự di cư của melanocyte và melanin từ lớp tế bào đáy xuống trung bì
  • Trung Bì
    • Hiện diện của đại thực bào ngậm hắc tố da 
    • Tồn tại các sợi elastin kém chất lượng 
    • Tăng sinh mast cells 
    • Tăng sinh mạch máu  

CÁC LOẠI MELASMA

Do đặc tính chuyên biệt của melasma là sự xâm phạm của tế bào hắc tố xuống bên dưới trung bì cộng với lớp basement membrane bị phá vỡ, nên ở melasma chúng ta có thể thấy phần hắc tố da tồn tại ở cả trung bì và thượng bì. 

Có ba dạng melasma chính: thượng bì (epidermal), trung bì (dermal) và hỗn hợp (mixed). Phần lớn melasma có dạng hỗn hợp. Nghĩa là có sự hiện diện của hắc tố ở cả 2 lớp da thượng và trung bì. 

ĐIỀU TRỊ

Các phương pháp điều trị phổ biến được ghi nhận trong các bài nghiên cứu trị melasma bao gồm:

First-line treatment – Thuốc thoa

Các loại thuốc thoa này cần có toa chỉ định của bác sĩ. Loại thuốc có tính hiệu quả cao nhất là hydroquinone, bên cạnh các loại khác như mequinone, azeilic acid, tranexamic acid, retinoic acid, v.v. 

Nguyên lý hoạt động của thuốc xức là tác động vào các bước trong chu trình hình thành melanin mình tóm tắt bên trên. Các nguyên lý bao gồm: ức chế enzyme tyrosinase (enzyme kích thích hoạt động của melanocyte), kìm hãm sự hình thành hay quá trình chuyển phát melanosome, chống oxy-hoá, hay thúc đẩy quá trình tái tạo da. 

Second-line treatment – Thay da hoá học

Hay còn có tên là chemical peel. Các loại peel thường dùng chuyên trị melasma bao gồm AHA, BHA, Jessner’s solution, TCA peel, retinoic acid peel. Các peel dùng để điều trị melasma thường có nồng độ khá cao để đạt được hiệu qủa mong muốn. Thường sau khi thay da hoá học, da sẽ có tình trạng tróc da nhẹ hay nhiều tuỳ vào quá trình priming (dưỡng da) trước khi tiến hành peel. Khi da được priming đúng cách, peel sẽ có hiệu quả cao hơn vì dễ dàng thấm vào da, cũng như giảm thiểu phản ứng phụ như tái phát hay PIH.

Nguyên lý hoạt động của thay da hoá học là sự thay đi lớp da chứa melanin ở thượng bì, và thúc đẩy quá trình tái tạo da mới không chứa melanin. Tuy nhiên, melasma không chỉ tồn tại ở thượng bì mà còn ở trung bì, và ở trung bì hoàn toàn không có quá trình thay da xảy ra. Vì vậy các peel hoá học không cải thiện được phần melanin ở lớp da này.

Third-line treatment – Laser hoặc IPL

Khắc phục được tình trạng nám ở cả trung bì và thượng bì bằng cách phá vỡ các melanin trong túi melanosome hay keratinocyte. IPL/Laser được xem như là third-line treatment khi thuốc thoa hay thay da hoá học không có hiệu quả đáng kể cho các melasma bị tái phát. Điểm cần lưu ý và cân nhắc khi lIPL/aser để điều trị melasma là: phương thức này chỉ làm mất đi các melanin của melasma, nhưng không thể trị dứt điểm melasma. Vì như trên mình đã giải thích là quá trình hình thành hắc tố được sản sinh từ melanocyte, muốn chữa tận gốc thì phải can thiệp vào trong chu trình hình thành melanin. Ngoài ra, phương thức này có nhiều khả năng gây ra PIH và tỷ lệ tái phát khá cao, vì vậy cần hỗ trợ dùng thêm thuốc thoa theo chỉ định bác sĩ hoặc các serum/kem dưỡng có thành ức chế chu trình tạo melanin.  

Nhìn chung, cách thức chữa trị hiệu quả nhất cho bệnh melasma chính là kết hợp nhiều phương thức điều trị theo phát đồ điều trị hợp lý. 

Điểm cần lưu ý là melasma sau điều trị có khả năng tái phát là khá cao. Vì vậy sau khi được chữa trị bằng peel hay IPL/Laser, các bạn sẽ cần tiếp tục điều trị bằng thuốc thoa. 

CÁC CÁCH ĐIỀU TRỊ NÁM DA TRÊN THỊ TRƯỜNG 

MÁY HÚT NÁM

Dạo gần đây newsfeed facebook của mình liên tục xuất hiện các quảng cáo về máy hút nám của một thương hiệu khá nổi tiếng trên thị trường (sorry các bạn, mình không tiện nói ra tên thương hiệu ở đây). Căn bản máy này hoạt động dựa trên nguyên lý Galvanic. Nếu có dịp mình sẽ bàn sau về Galvanic nhé. Nhưng việc dùng cụm từ “hút nám” nghe thật hấp dẫn, và cũng hết sức sai lệch trong việc trị nám. Vì hút thì thì hút như thế nào nhỉ? Melanin nằm trong keratinocyte ở mấy lớp da thượng bì rồi cả trung bì. Với máy galvanic hoàn tòan không hoạt động dựa trên cơ chế hút gì cả. Nhưng quảng cáo thì cam đoan hết nám trong vòng vài tháng. Có chút vi diệu.

KEM TRỘN

Thành phần không rõ ràng, hàm lượng không được công khai. Đại đa số theo mình được biết là chứa corticosteroid làm mỏng da qua thời gian. Mình từng điều trị da cho các khách từng xài qua kem trộn, có người may mắn da hồi phục tốt, có người thì da hỏng luôn cứ bị nổi mụt sần li ti hết cả mặt mà ngay cả bác sĩ da liễu cũng không giúp được gì. Các bạn dùng tẩy da, kem trộn, hay can thiệp không đúng cách sẽ càng làm khả năng điều trị thành công thấp đi. 

Bài viết khá dài rồi nên mình sẽ tạm ngưng ở đây, ở phần sau có lẽ sẽ viết tiếp về các cách điều trị nám khác trên thị trường cho mọi người cùng đọc nhé. 

Nguồn tham khảo

Kwon, S., Na, J., Choi, J., & Park, K. (2018). Melasma: Updates and perspectives. Experimental Dermatology, 28(6), 704-708. https://doi.org/10.1111/exd.13844

Trivedi, M., Yang, F., & Cho, B. (2017). A review of laser and light therapy in melasma. International Journal of Women’s Dermatology3(1), 11-20. https://doi.org/10.1016/j.ijwd.2017.01.004

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

McKesey, J., Tovar-Garza, A., & Pandya, A. G. (2020). Melasma Treatment: An Evidence-Based Review. American Journal of Clinical Dermatology21(2), 173–225. https://doi.org/10.1007/s40257-019-00488-w

Tawfic, S. O., Abdel Halim, D. M., Albarbary, A., & Abdelhady, M. (2019). Assessment of combined fractional CO 2 and tranexamic acid in melasma treatment. Lasers in Surgery and Medicine51(1), 27–33. https://doi.org/10.1002/lsm.23032