Featured

TRIỆT LÔNG VĨNH VIỄN VÀ CÁC BIẾN CHỨNG

Triệt lông vĩnh viễn

Hiện nay, có thể nói dịch vụ “triệt lông vĩnh viễn” được xem như một trong các dịch vụ phổ biến và được nhiều người ưa chuộng nhất tại các spa. 

Nguyên nhân căn bản có thể vì tính “vĩnh viễn”, tiện lợi, và an toàn của nó. Thay vì wax, nhổ, cạo lông thường xuyên vì lông mọc theo chu kì, thì “triệt lông vĩnh viễn” bằng laser hay IPL có thể làm chết nang lông, mang lại hiệu quả lâu dài, không quá đau, khá an toàn (điều này còn phụ thuộc nhiều yếu tố); cộng thêm chi phí ngày càng hợp túi tiền hơn hiển nhiên là một lựa chọn vượt trội. 

Cơ chế hoạt động 

Hoạt động dựa trên cơ chế các hắc tố trong sợi lông hấp thụ tia sáng phát ra từ laser hay IPL, chuyển đổi các ánh sáng từ laser/IPL này thành nhiệt độ đủ cao để phá huỷ các tế bào gốc tại nang lông, cùng các cấu trúc xung quanh nang lông. Kết quả là lông mọc yếu dần, mỏng đi, và hoàn toàn không mọc trở lại. 

Một vòng đời của lông có ba giai đoạn: hoạt động – tạm ngừng – ngưng hoạt động. Ước chừng trên cơ thể có vào khoảng 70%-80% các nang lông đang trong giai đoạn hoạt động. Số nang lông còn lại đang trong giai đoạn tạm ngừng mọc lông. 

Vì triệt lông hoạt động dựa trên nguyên tắc hắc tố của sợi lông hấp thụ tia laser nên 20%-30% các nang lông hiện không có lông sẽ không chịu tác động của tia laser/IPL. Điều này lí giải cho hiện tượng sau liệu trình điều trị khoảng 6 tháng trở đi, bạn bắt đầu thấy một vài sợ lông cứng (thay vì mỏng, thưa) mọc lên. Đây là những sợi lông chưa bị triệt trong đợt điều trị ban đầu. 

Cho dù như vậy, số lượng lông mọc lại chỉ vào khoảng 20-30% tổng số lông bạn có mà thôi. 

Nguyên tắc này áp dụng cho những ai không bị các chứng bệnh mọc lông quá đà dưới ảnh hưởng hormone hay các yếu tố khác. 

Hiện trạng 

Tuy triệt lông vĩnh viễn khá an toàn, vẫn có nhiều biến chứng có thể xảy ra sau khi triệt lông. Các biến chứng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kĩ thuật viên, cơ địa, tuỳ chỉnh trong máy, chăm sóc sau điều trị, v..v. 

Phản ứng phụ

Các phản ứng phụ cần có, hay còn gọi là clinical endpoints sau khi triệt lông bao gồm:

  • Da ửng hồng (erythema)
  • Sưng xung quanh lỗ chân lông (perifollicular oedema)

Các phản ứng phụ này là hoàn toàn bình thường và cần phải có, và kéo dài từ 2-7 ngày sau khi triệt lông. Tuy nhiên, nếu tình trạng da đỏ và sưng lỗ chân lông xảy ra lâu hơn 7 ngày thì bạn nên kiểm tra với bác sĩ vì hơn 7 ngày là khá lâu và cho thấy phản ứng phụ này không còn bình thường nữa. 

Biến chứng

Triệt lông vĩnh viễn nhìn chung an toàn và hiệu quả, tuy nhiên các biến chứng vẫn có thể xảy ra do nhiều yếu tố khác nhau

Biến chứng thường gặp
  • Thâm (hyperpigmentation), hay da bị mất màu (hypopigmentation). Các biến chứng này có thể xảy ra do chọn sai wavelength, pulse duration, fluence, không dùng hay dùng không đủ phương thức làm mát da, hay triệt lông trên da bị sạm nắng (do da sậm màu hơn, hút nhiều laser hơn từ đó dễ bị bỏng). Da bị thâm vẫn có thể xảy ra ngay khi chọn đúng các thông số điều trị, tuy nhiên các vết thâm này sẽ mang tính tạm thời và mờ dần theo thời gian, nhưng một khi da mất sắc tố thì có khả năng nó sẽ là vĩnh viễn 
  • Da bị sẹo/thẹo (scarring) do dùng fluence quá cao
  • Da khởi phát herpes infection, ví dụ như cold sores (giời leo) ở xung quanh miệng, hay các vùng khác như vùng kín
  • Lông bị kích thích và mọc dày, nhiều hơn (paradoxical hypertrichosis). Ví dụ như triệt lông măng/tơ ở vùng má, cằm nhưng lông mọc dày và đen hơn sau đó. Hiện tượng này khá phổ biến với da Châu Á, Nam Á, Trung Đông, sắc tộc Địa Trung Hải
Mất sắc tố da sau khi da bị bỏng do triệt lông
Lông mọc nhiều hơn sau triệt lông

Các biến chứng hiếm gặp 

Fox–Fordyce-like disease
nguồn ảnh
nguồn ảnh
  • Khá hiếm gặp
  • Xảy ra 3-4 tháng sau triệt lông ở vài vùng da. Nhưng trong đó có một trường hợp bệnh nhân bị ở tất cả các vùng triệt lông. 
  • Trong cả 3 trường hợp được ghi nhận bệnh nhân đều mắc chứng bệnh này ở vùng nách sau triệt lông. Điều này có thể cho thấy nách là nơi dễ mắc chứng bệnh này cao hơn các vùng khác
  • Nguyên nhân chính xác của bệnh hiện chưa được lý giải
  • Khả năng mắc phải biến chứng có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuỳ chỉnh laser cao hay thấp, mức độ viêm nhiểm sau laser, loại da, và nhiều yếu tố khác. 
  • Mẫu da phân tích cho thấy cấu trúc lỗ chân lông có sự biến đổi như sau:
    • Tuyến mồ hôi phình to (dilation of apocrine)
    • Phểu nang lông phình to (dilation of the follicular infundibulum)
    • Tăng sừng hoá quanh lỗ chân lông (follicular hyperkeratosis)
    •  Sự thâm nhập của tế bào lympho (Periductal lymphohistiocytic infiltrate)
nguồn ảnh

Viêm nang lông

nguồn ảnh

Viêm nang lông do triệt lông bằng laser
A – vùng triệt lông ngay sau điều trị, cho thấy da hơi đỏ, sưng nhẹ
B – 9 ngày sau triệt lông, xuất hiện các nốt mủ sưng đỏ
C – 15 ngày sau điều trị và 5 ngày sau khi dùng doxycycline. Số lượng nốt mủ sưng đã giảm, cùng với số lượng lông giảm đáng kể
D – 3 tháng sau điều trị, hoàn toàn không còn tình trạng viêm nang lông

  • Nguyên nhân viêm nang lông sau triệt lông hiện chưa rõ, tuy nhiên nếu nguyên nhân tương tự như tình trạng viêm nang lông thông thường thì có thể là do lông dày, xoăn, nhiều sợi lông mọc ra từ một lỗ chân lông. 
  • Các lông này sau khi laser sẽ được đẩy lên khỏi bề mặt da, nhưng trong quá trình lông đẩy lên lại đâm vào da gây ra tình trạng viêm nang lông. 
  • Hiện chưa có thống kê chính xác tình trạng viêm nang lông sau triệt lông xảy ra chủ yếu ở các loại da nào. Do đó các vùng da có lông dày, cứng, xoăn như vùng râu ở nam, vùng bikini sẽ có khả năng bị cao hơn. 
  • Để ngăn ngừa tình viêm nang lông, thuốc kháng viêm như steroid, doxycycline, cùng với việc vệ sinh bằng khăn một cách nhẹ nhàng ở vùng da điều trị sẽ góp phần giảm đi mức độ viêm nang lông.  

Cách phòng ngừa hay giảm thiểu biến chứng, phản ứng phụ không cần thiết

Nếu bạn là một chuyên viên spa, bạn nên lưu ý các điều sau:

  • Chỉ triệt lông cho các khách hàng phù hợp để triệt lông 
  • Tuỳ chỉnh thông số triệt lông phù hợp với từng loại da
  • Làm mát da trong quá trình điều trị
  • Bảo vệ mắt bằng kính chống tia laser kĩ càng
  • Chăm sóc da khách đúng cách trước và sau laser
  • Trước khi tiến hành điều trị, trao đổi với khách những phản ứng phụ cần có, cũng như các biến chứng ngoài mong đợi có thể xảy ra 
  • Ghi nhớ nguyên tắc WATCH (viết tắt từ các chữ cái đầu tiên của các điều cần nhớ khi thực hiện triệt lông)
Nguyên tắc WATCHTạm dịch 
Watch—the phototype, the hair, the skin, the site; 
Act—wavelength, pulse duration, fluence, spot, frequency, spot test (pay attention to pain); 
Think—wait and evaluate;
Correct—if necessary;
Home—give proper instructions.  
Quan sát – loại da (Fitzpatrick phototype), đặc điểm lông, da, vùng điều trị
Hành động – chọn wavelength, pulse duration, fluence, spot, frequency, spot test (chú ý mức độ đau của khách hàng)
Suy nghĩ – chờ và quan sát
Sửa lỗi – khi cần 
Chăm sóc tại nhà – cung cấp hướng dẫn chăm sóc da sau điều trị

Nếu bạn dự định triệt lông thì mình có các lời khuyên sau:

  • Lựa chọn spa uy tín có đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản về laser là cực kì quan trọng.
  • Cần biết loại da Fitzpatrick skin type của mình là gì. Thông thường da Châu Á vào khoảng skintype 4, những bạn trắng thì loại 3. Để xác định chính xác loại da của mình các bạn làm bài trắc nghiệm tại đây. Biết được loại da sẽ giúp bạn thảo luận với chuyên viên về tuỳ chỉnh đúng cho bạn, hay là check được tuỳ chỉnh bởi chuyên viên có phù hợp hay không. 
  • Hỏi kĩ thuật viên thông số được dùng cho bạn ngày hôm nay là gì, và trong lần tiếp theo bạn sẽ hỏi để biết chắc rằng thông số không bị chỉnh sai, hay tăng cao quá mức sau từng lần điều trị. Đơn giản nhất là chụp ảnh màn hình của máy để lưu lại thông số nhé. 
  • Trong quá trình đang được điều trị, nếu bạn thấy nóng hay đau ở mức 7-8 trên thang điểm từ 1-10, thì bạn nên yêu cầu kĩ thuật viên ngưng điều trị và giảm các tuỳ chỉnh lại. 
  • Vì kết quả triệt lông là vĩnh viễn, nên bạn cần suy nghĩ kĩ trước khi quyết định điều trị nhé
  • Yêu cầu list hướng dẫn chăm sóc da từ kỹ thuật viên nếu trong quá trình tư vấn bạn chưa được cung cấp hướng dẫn này
  • Trước mỗi lần điều trị, bạn nên tự hỏi là cơ thể mình hôm nay có gì thay đổi mà sẽ ngăn ngừa việc điều trị hay không. Nếu có, bạn đừng ngại hỏi chuyên viên triệt lông cho họ nhé. 

Cảm ơn bạn đã đọc bài 🥰

References

Clatici, V. G., Barinova, E., Voicu, C., Mihai, L., & Tatu, A. L. (2020). Complications of laser hair removal—How we could reduce them? Dermatologic Therapy33(4). https://doi.org/10.1111/dth.13518

Schuler, A., Veenstra, J., & Tisack, A. (2020). Folliculitis Induced by Laser Hair Removal: Proposed Mechanism and Treatment. The Journal of clinical and aesthetic dermatology, 13(5), 34–36.

Ibrahimi, O. A., Avram, M. M., Hanke, C. W., Kilmer, S. L., & Anderson, R. R. (2011). Laser hair removal. Dermatologic Therapy, 24(1), 94–107. https://doi.org/10.1111/j.1529-8019.2010.01382.x

Helou, J., Maatouk, I., Moutran, R., & Obeid, G. (2013). Fox–fordyce-like disease following laser hair removal appearing on all treated areas. Lasers in Medical Science28(4), 1205-1207. https://doi.org/10.1007/s10103-012-1263-4

CHỐNG NẮNG HOÁ HỌC CÓ THẬT SỰ KHÔNG TỐT?

So sánh chống nắng hoá học và vật lý

Kem chống nắng được chia làm hai loại: vật lý (physical, inorganic) và hoá học (chemical, oragnic)

Kem chống nắngVật lý  Hoá học
Thành phần*Zinc Oxide, Titanium DioxideCác chất khác, ngoại trừ Zinc Oxide và Titanium Dioxide
Cơ chế hoạt độngPhản chiếu tia UV
Titanium Dioxide hiệu quả hơn trong chống UVB, trong khi Zinc Oxide hiệu quả hơn trong chống tia UVA
Zinc Oxide chống UVA-I (340–400nm) hiệu quả hơn khả năng chống UVA-II (315–340 nm)
Titanium Dioxide chống tia UVA-II (315–340nm) hiệu quả hơn chống tia UVA-I (34nm-400nm)
Chuyển hoá tia UV thành nhiệt, hay các tia UV có bức xạ dài hơn và ít năng lượng hơn. 

*dựa vào báo cáo các thành phần được cho phép sử dụng bởi Therapeutic Goods Administration (TGA)

Tính an toàn và hiệu quả

Theo báo cáo năm 2019 của FDA, các chất Zinc Oxide và Titanium Dioxide trong physical sunscreen được kết luận là có khả năng chống nắng hiệu quả và an toàn. 

Về các hoạt chất trong chemical sunscreen thì FDA có kết luận như sau: 

  • Oxybenzone và Avobenzone có khả năng chống nắng nhưng cần thêm nghiên cứu để khẳng định tính an toàn hiệu quả.  
  • Para-Aminobenzoic Acid, Trolamine Salicylate bị liệt kê vào danh sách không an toàn, và khuyến cáo không nên dùng trong sunscreen
  • Cinoxate, Dioxybenzone, Ensulizole, Homosalate, Meradimate, Octinoxate, Octisalate, Octocrylene, Padimate O, Sulisobenzone chưa khẳng định được tính hiệu quả và an toàn do đó cần thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai. 

Một bài nghiên cứu gần đây cũng cho thấy có sự thẩm thấu của hoạt chất trong chemical sunscreen vào cơ thể tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc chemical sunscreen có thể gây nguy hại cho sức khoẻ và nên bị bài trừ. 

Phản ứng phụ

Chống nắng hoá học

Kích ứng, dị ứng hay ngứa da là một trong các phản ứng phụ phổ biến nhất. Hoạt chất thường gây ra kích ứng gồm có benzophenones và butyl methoxy dibenzoylmethane. 

Bên cạnh đó, thí nghiệm trong ống nghiệm cho thấy có sự ảnh hưởng của một vài hoạt chất trong suncreen lên hormone oestrogen. Tiêu biểu như benzophenones, 4-methylbenzylidene camphor (4-MBC), và octyl methoxycinnamate (OMC). Tuy nhiên, chưa có kết quả thí nghiệm trên người cho thấy các hoạt chất này thực sự có ảnh hưởng lên cơ thể người giống như trong ống nghiệm. 

Bảng bên dưới liệt kê các thành phần gây ra dị ứng da tiếp xúc và khi phơi nắng

>20 kích ứng< 20 kích ứngÍt khả năng kích ứng            
p‐aminobenzoic acid (PABA)Oxybenzone (benzophenone 3) (2‐ hydroxy‐4‐methoxybenzophenone) Padimate OButyl methoxydibenzoylmethane (avobenzone)4‐methylbenzlidene camphor (enzacamene)OctocryleneCinoxate (2‐ethoxyethyl p‐ methoxycinnamate) BenzophenonePhenylbenzimidazole sulfonic acid (ensulizole) Sulisobenzone (benzophenone 4) (Uvinul MS)HomosalateDioxybenzone  (benzophenone 8)  Isoamyl methoxycinnamate Octyl salicylate (octisalate) (ethylhexyl salicylate)Octyl methoxycinnamate (ethylhexyl methoxycinnamate) (octinoxate) (Uvinul MC80) Polysilicone ‐15 Octyl triazone (ethylhexyl triazone) Methylene bis‐benzotriazolyl Tetrametholbutylphenol (bisotrizole)
Chống nắng vật lý

Kích thước phân tử nano của Titanium dioxide và Zinc Oxide rất nhỏ vì thế gây ra lo ngại về khả năng thẩm thấu xuyên qua da và vào máu. Tuy nhiên, đa số nghiên cứu cho thấy các hạt nano này không thể thẩm thấu qua khỏi lớp thượng bì. Thậm chí khi thẩm thấu, lượng phân tử của Zinc có thể đi vào cơ thể là cực kì nhỏ và không đáng kể khi so sánh với hàm lượng kẽm (Zinc) có sẵn trong máu. 

Mặc dù Zinc Oxide còn có các lợi ích khác như kháng viêm, kháng khuẩn, kiềm dầu, tuy nhiên theo kinh nghiệm làm việc thì mình vẫn gặp một số trường hợp khách bị dị ứng với kem chống nắng có chứa Zinc Oxide. Điều này cũng không thể hoàn toàn chứng minh rằng do Zinc Oxide mà da của khách bị kích ứng, vì có thể da bị kích ứng với các thành phần phụ chứa trong kem chống nắng đó. 

Ảnh hưởng hệ sinh thái

Rất nhiều bài nghiên cứu cho thấy các hoạt chất trong chemical sunscreen ảnh hưởng đến hệ sinh thái của các sinh vật biển. Tuy nhiên Zinc Oxide với kích thước nano cũng có thể gây nhiễm độc và stress cho một vài giống sinh vật biển nhất định. 

Loại sunscreen nào thì an toàn?

Kem chống nắng hoá học hay vật lý đều có khả năng gây ra kích ứng và các tác hại nhất định tới môi trường xung quanh. Sẽ có vẻ hơi thiên vị và thiển cận nếu một mực khẳng định rằng kem chống nắng hoá học không tốt, và kem chống nắng vật lý là an toàn và hiệu quả cho mọi loại da. 

Nguyên tắc cơ bản là mỗi loại da đều khác nhau. Tuỳ vào da và hoàn cảnh sử dụng mà chúng ta sẽ chọn lựa loại kem chống nắng hiệu quả có thành phần phù hợp cùng khả năng kích ứng thấp nhất. 

Ví dụ trên da vừa làm treatment như lăn kim, microdermabrasion, chemical peel, v.v khi mà bức tường bảo vệ trên da đang yếu và tổn thương, an toàn nhất là che chắn kĩ và không dùng chống nắng trực tiếp mà chờ khoảng 24h sau treatment. 

Một bài nghiên cứu về hàm lượng thẩm thấu của các chất bôi lên da sau laser cho thấy khả năng thẩm thấu của da sau treatments sẽ tăng 60%-70% so với da bình thường. Trong khi kem chống nắng được thiết kể để sử dụng trên bề mặt da, và hoàn toàn không nhẳm mục đích thẩm thấu vào da. 

Với da nhạy cảm, nên ưu tiên dùng physical sunscreen trước thay vì chemical sunscreen. Lí do không phải chống nắng hoá học là xấu, mà do trong chemical sunscreen thường sẽ chứa nhiều hoạt chất hơn vật lý. Theo lý thuyết càng nhiều hoạt chất thì khả năng kích ứng càng cao. So với chống nắng vật lý với hoạt chất chủ yếu là Zinc Oxide và Titanium Dioxide thì khả năng kích ứng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, cũng nên xem lại các thành phần khác mà bạn biết bản thân bị dị ứng hay không ví dụ như tinh dầu, chất tạo mùi, tạo màu, v..v 

Có nhiều loại da dị ứng với chống nắng vật lý, nhưng lại hoàn toàn ok khi dùng chống nắng hoá học. Và chống nắng hoá học từ nhiều nhãn hàng lớn vẫn cung cấp độ bảo vệ không thua kém chống nắng vật lý.

Bản thân mình khá là không thích khi một nhãn hàng quảng cáo về chống nắng vật lý bằng cách đưa ra các khía cạnh không tốt của chống nắng hoá học. Điều đó khá là sai vì không thể nói rằng Zinc Oxide có các lợi ích phù hợp da nhạy cảm, vì vậy kem chống nắng A từ công ty của chúng tôi là lựa chọn an toàn và hiệu quả hơn. Bởi vì chúng ta biết rõ rằng trong chống nắng vật lý còn có vô vàn các hợp chất khác. Và không thể đưa ra kết luận chống A an toàn và hiệu quả chỉ vì 1 chất trong sản phẩm đó an toàn và hiệu quả.  

Một điều nữa là chống nắng vật lý, hay bản thân Zinc Oxide hay Titanium Dioxide cũng là một chemical compounds hay hợp chất hoá học. Nên rất rất là sai khi người bán quảng cáo với bạn là kem chống nắng này an toàn do không chứa chất hoá học. 

Không khí có cấu trúc hoá học là O2. Nên bạn đừng nên tin vào lời quảng cáo “sản phẩm này không chứa chất hoá học nên rất an toàn cho da” nha. 

Vì vậy đừng bài trừ chống nắng hóa học nhé. 

Nguồn tham khảo:

  1. Hanigan, D., Mulchandani, A., Westerhoff, P., Truong, L., Tanguay, R. L., Schoepf, J., & Nosaka, T. (2018). Trade-offs in ecosystem impacts from nanomaterial versus organic chemical ultraviolet filters in sunscreens. Water Research139, 281–290. https://doi.org/10.1016/j.watres.2018.03.062
  2. Hiller, J., Klotz, K., Meyer, S., Uter, W., Hof, K., Greiner, A., Göen, T., & Drexler, H. (2019). Systemic availability of lipophilic organic UV filters through dermal sunscreen exposure. Environment International132, 105068. https://doi.org/10.1016/j.envint.2019.105068
  3. He, T., Tsui, M. M. P., Tan, C. J., Ma, C. Y., Yiu, S. K. F., Wang, L. H., Chen, T. H., Fan, T. Y., Lam, P. K. S., & Murphy, M. B. (2019). Toxicological effects of two organic ultraviolet filters and a related commercial sunscreen product in adult corals. Environmental Pollution245, 462–471. https://doi.org/10.1016/j.envpol.2018.11.029
  4. Fastelli, P., & Renzi, M. (2019). Exposure of key marine species to sunscreens: Changing ecotoxicity as a possible indirect effect of global warming. Marine Pollution Bulletin149. https://doi.org/10.1016/j.marpolbul.2019.110517
  5. https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/fda-advances-new-proposed-regulation-make-sure-sunscreens-are-safe-and-effective
  6. Wong, S. W. Y., Zhou, G.-J., Leung, P. T. Y., Kwok, K. W. H., Leung, K. M. Y., Han, J., & Lee, J.-S. (2020). Sunscreens containing zinc oxide nanoparticles can trigger oxidative stress and toxicity to the marine copepod Tigriopus japonicus. Marine Pollution Bulletin154. https://doi.org/10.1016/j.marpolbul.2020.111078
  7. https://www.federalregister.gov/documents/2019/02/26/2019-03019/sunscreen-drug-products-for-over-the-counter-human-use
  8. Yap, F. H., Chua, H. C., & Tait, C. P. (2017). Active sunscreen ingredients in Australia. Australasian Journal of Dermatology58(4), e160–e170. https://doi.org/10.1111/ajd.12597
  9. Abbasi, J. (2020). FDA Trials Find Sunscreen Ingredients in Blood, but Risk Is Uncertain. JAMA. https://doi.org/10.1001/jama.2020.0792
  10. Suh, S., Pham, C., Smith, J., & Mesinkovska, N. A. (2020). The banned sunscreen ingredients and their impact on human health: a systematic review. International Journal of Dermatology. https://doi.org/10.1111/ijd.14824
  11. Chen, W., Fang, C., Al-Suwayeh, S. A., Yang, H., Li, Y., & Fang, J. (2013). Risk assessment of excess drug and sunscreen absorption via skin with ablative fractional laser resurfacing. Lasers in Medical Science28(5), 1363-1374. https://doi.org/10.1007/s10103-012-1257-2

RƯỢU THUỐC

Bài viết hôm nay mình sẽ cũng tìm hiểu về rượu thuốc trong việc điều trị mụn mọi người nhé. 

Mình không nhằm mục đích gây bất lợi trong việc kinh doanh của các đơn vị phân phối rượu thuốc. Mục tiêu chính là phân tích và so sánh giữa cơ chế peel da của rượu thuốc và peel hoá học chính thống . 

Rượu thuốc là gì? 

Rượu thuốc có nhiều loại nhưng nhìn chung thành phần căn bản bao gồm rượu (cồn), salicylic acid (BHA) và các thành phần rễ cây, dược thảo, hay các thành phần bí truyền khác. 

Được quảng cáo rầm rộ trên các facebook page, group, website bán hàng online, hay thậm chí còn được giới thiệu là được điều chế bởi các bác sĩ, hay từ bí kíp gia truyền, v..v. 

Giá sản phẩm dao động vào khoảng vài trăm nghìn đến cả triệu đồng cho một sản phẩm. Hình thức bán hàng từ cá nhân nhỏ lẻ, đến công ty, hay thậm chí rất chuyên nghiệp ví dụ như có cả team chăm sóc khách hàng. 

Sự khác nhau giữa thay da hoá học và rượu thuốc

Rượu thuốc hoạt động tương tự như peel hoá học trong việc trị mụn bằng cách làm bong da và khô còi mụn. Tuy nhiên, cơ chế lại khác nhau hoàn toàn. Chúng ta cùng so sánh để xem sự khác nhau này nhé. 

 Rượu thuốc     Peel hoá học chính thống
Thành phầnAlcohol: không rõ nồng độ, tỷ lệ bao nhiêu % salicylic acid (BHA): không rõ pH, tỷ lệ bao nhiêu %, chỉ số pKa*các thành phần khác: không rõ thành phần là những gì, không rõ độ đậm đặc, hay tỷ lệ %  AHAs, BHAs, Retinoid Acid, TCA, Jessner, v.vThành phần được liệt kê đầy đủ.Được phân theo thứ tự nồng độ từ thấp tới cao để chuyên viên có thể bắt đầu dùng peel độ đậm đặc thấp rồi sau đó tăng dần khi da đã quen với peel. VD: TCA peel 10%-100%Việc phân chia nồng độ % này cũng cho thấy độ sâu mà peel sẽ thẩm thấu và tác động đến da. Vì vậy an toàn hơn. VD: TCA 35-50% độ thẩm thấu chỉ đến lớp papillary dermis (lớp mạch máu ở trung bì, ngay bên dưới thượng bì) chứ không sâu hơn. Tuy nhiên khi tăng đến 100% thì thẩm thấu đến lớp reticular dermis (lớp mạch máu sâu nhất trung bì). 
Cơ sở khoa họcHiện tại chưa có cơ sở khoa học nghiên cứu về tính hiệu quả của rượu thuốc trong việc trị mụnDựa trên cơ sở khoa học nghiên cứu lâu năm 
Cơ chế hoạt độngLàm khô, bong tróc lớp da thượng bì Loại bỏ các lipid cấu trúc nên bức tường bảo vệ da  Phá vỡ liên kết giữa các tế bào da sừng ở lớp thượng bì hay sâu xuống tận lớp trung bì. Độ sâu hoạt động được phân loại rõ ràng dựa trên tỷ lệ % của acid trong dung dịch peel. Độ sâu hoạt động được thí nghiệm qua nhiều nghiên cứu khoa học nên có độ an toàn cao cho dù peel có thể thẩm thấu sâu hơn cả thuốc rượu. Các peel sẽ tự neutralise, hay được các chuyên viên/bác sĩ neutralise trong thời gian quy định bởi nhà sản xuất (khoảng 2-20 phút) hay khi đạt được clinical endpoints mong muốn. 
Tần suất sử dụngKhông có hướng dẫn sử dụng chung và thống nhất vì mỗi loại thuốc đều khác nhau. Tuỳ thuộc hướng dẫn sử dụng theo lời người tư vấnThông thường được sử dụng kéo dài thường xuyên trong vài tháng, và nhiều lần trong ngày. Vì vậy về lâu dài bức tường bảo vệ da sẽ bị hư tổn do quá trình bong tróc da thường xuyên hàng ngày, cộng thêm tác động phá huỷ lớp lipid kết nối các tế bào da. Da mất đi khả năng bảo vệ các tác nhân bên ngoài, mỏng dần, và trở nên nhạy cảm ngay cả khi bạn đã ngưng thuốc rượu.Mỗi loại peel đều có hướng dẫn sử dụng và protocol tương xứng để đạt kết quả tốt và an toàn nhất. Đối với peel serum: dùng từ 1-3 lần/tuần cho đến hàng ngày. Sử dụng 1-2 lần/ngàyĐối với peel tại spa: Số lần peel sẽ cách nhau từ 1 tuần cho đến vài tuần/tháng hay thậm chí chỉ 1 lần duy nhất là đủ. Không sử dụng liên tục trên da, vẫn tạo ra cơ chế thay da, nhưng trong sự kiểm soát chặt chẽ, vì vậy giảm thiểu tình trạng da nhạy cảm hay hư tổn do bị peel quá mức.
Tác dụng phụBỏng da sau peel: do quá nhiều lớp da bị lột đi nhanh hơn quá trình tái tạo của tế bào da. Nên nhớ trung bình 1 tế bào da cần 28 ngày để bắt đâu từ lớp tế bào đáy của thượng bì đến lớp sừng. Da mỏng, lộ mao mạch, dễ đỏ, nhạy cảm, dễ kích ứng: Khi da mất quá nhiều lớp tế bào sừng, và lipid của bức tường bảo vệ đã bị hoà tan hết, các tác nhân bên ngoài sẽ rất dễ dàng thẩm thấu nhanh vào da. Hiện tượng khi thoa một lớp sản phẩm lên da và da bị đỏ, hay dễ kích ứng hơn so với trước kia là do các hoạt chất trong sản phẩm thẩm thấu quá nhanh vào da. Điều này khiến da bị sốc và phản ứng lại bằng cách nóng, đỏ, rát, v..v.Kích ứng với thành phần trong rượu thuốc: vì thành phần không được liệt kê rõ ràng nên sẽ có nguy cơ cao cơ thể bạn dị ứng với các thành phần trong rượu nhưng lại không biết để lường trước. đây là điều khá nghiêm trọng vì dị ứng thành phần có thể gây hiện tự phù nề cả mặt, hay nổi mề đay, v..v Trong trường hợp phát hiện phù nề ngay ở các vùng không xức thuốc rượu bạn cần liên hệ ngay bác sĩ để khám nhé. Đỏ, nóng, bong da nhẹ, là các phản ứng phụ có thể gặp tuy nhiên chỉ mang tính tạm thời, không kéo dài, không gây tổn thương về sauDa không trở nên nhạy cảm, hay yếu đi về lâu dài mà lại khoẻ hơn vì quá trình peel da có kiểm soát thúc đẩy quá trình tái tạo da trong tần suất an toàn và hợp lý với chu trình sản sinh tế bào da mới. Hàng rào bảo vệ da không bị tổn thương do quá trình peel luôn được thiết kế một cách hợp lý và khoa học, tạo điều kiện cho da có đủ thời gian phục hồi trước khi bắt đầu peel tiếp theo. Kích ứng thành phần trong peel có thể được ngăn ngừa vì sản phẩm luôn được liệt kê chi tiết các thành phần bào chế bên trong. 

*Chỉ số pKa là chỉ số cho biết độ mạnh hay nhẹ của một acid, hay khả năng điện ly của acid thành các H+. Chỉ số pH chỉ cho biết độ đậm đặc của H+ trong dung dịch.

Ví dụ: 2 salicylic acid có cùng độ pH, tuy nhiên loại nào có pKa thấp hơn sẽ mạnh hơn loại còn lại.

Tuy nhiên nhà sản xuất thông thường không công bố chỉ số này cho người sử dụng. 

Phải làm gì khi lỡ dùng rượu thuốc? 

Mình thường thấy các bạn kiên trì xài hết liệu trình cho dù da đã rất rát sau một thời gian dùng rượu thuốc. Bởi vì các bạn quan niệm và cũng được tư vấn là nếu ngưng giữa chừng thì sẽ không hết được mụn mà da sẽ còn tồi tệ hơn tình trạng hiện tại. 

Tuy nhiên lời khuyên của mình là hãy ngưng sử dụng ngay khi bạn thấy các tình trạng đỏ, rát, nóng, sưng phù kéo dài. Dị ứng thành phần đôi khi xuất hiện sau 72 giờ chứ không ngay lập tức. Vì vậy các bạn nên lưu ý việc này nhé. 

Để xác định đó có phải là dị ứng hay không thì hãy nhớ câu thần chú “Heat – Redness – Swelling – Pain”. Đây là 4 triệu chứng khi da bị dị ứng. Nếu có sưng phù (swelling) thì chắc chắn là hiện tượng dị ứng. Heat (nóng) và Redness (đỏ) nếu xuất hiện nhưng giảm dần thì không phải dị ứng. Tuy nhiên nếu kéo dài và ngày càng tăng thì điều đó cho thấy bạn đang bị dị ứng sản phẩm. 

Khi da bạn bị tổn thương từ rượu thuốc, hay dị ứng thành phần hãy đi bác sĩ để được chẩn đoán và kê toa. Các bạn tuyệt đối không nên tuỳ ý mua thuốc người bán cung cấp vì người bán không phải bác sĩ, vì vậy không có kiến thức và quyền kê toa cho bạn kể cả thuốc uống hay xức. 

Sau quá trình bị tàn phá da sẽ cần một thời gian để hồi phục lại như ban đầu. Nguyên tắc cơ bản gồm có: tránh nắng, cung cấp ẩm, tái tạo bức tường bảo vệ, và trị mụn khoa học. 

Tuyệt đối tránh dùng thêm acid, peel, hay retinol (Vitamin A) trong gia đoạn da còn non, yếu và đang phục hồi vì bạn sẽ không muốn gây ra thêm tổn thương cho da.  

Hãy trị mụn một khách khoa học các bạn nhé ❤

Nguồn tham khảo:

O’Connor, A. A., Lowe, P. M., Shumack, S., & Lim, A. C. (2018). Chemical peels: A review of current practice. The Australasian Journal of Dermatology59(3), 171–181. https://doi.org/10.1111/ajd.12715

Castillo DE, & Keri JE. (2018). Chemical peels in the treatment of acne: patient selection and perspectives. Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatologyume 11, 365–372.

Nanma Nikalji, Kiran Godse, Jagdish Sakhiya, Sharmila Patil, & Nitin Nadkarni. (2012). Complications of medium depth and deep chemical peels. Journal of Cutaneous and Aesthetic Surgery5(4), 254–260. https://doi.org/10.4103/0974-2077.104913

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Lee, K. C., Wambier, C. G., Soon, S. L., Sterling, J. B., Landau, M., Rullan, P., & Brody, H. J. (2019). Basic chemical peeling: Superficial and medium-depth peels. Journal of the American Academy of Dermatology81(2), 313–324. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2018.10.079

Mụn “thời vụ” hay Occasional Acne

Tiếp theo lượt bài viết về mụn, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu vì sao thi thoảng mình lại bị lên mụn trong khi từ đó đến giờ không hề bị mụn nhé. 

Mụn “thời vụ” – Occasional acne

Một bài nghiên cứu gần đây về mụn đã đề xuất một loại mụn mới có tên là “Occasional Acne” vào đại gia đình các loại mụn. Nôm na dịch cho vui là “mụn thời vụ”. 

Trong kinh nghiệm làm việc với khách hàng thì mình thường xuyên được hỏi là “Từ đó giờ em không hề bị mụn luôn mà sao tự nhiên lại nổi quá trời mụn” cùng các câu hỏi tương tự như thế. Mụn “thời vụ”có thể xuất hiện sau khi đi máy bay, gặp các vấn đề stress về mặt tinh thần hay thể chất, thậm chí thức khuya vì làm ca đêm hay học bài buổi tối, v.v. 

Đặc điểm “mụn thời vụ”

  • Mang tính tạm thời và tự hết
  • Tự phát ở các đối tượng trước giờ ít hay không bị mụn 
  • Khởi phát từ một nguyên nhân nào đó

Trong đó, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khởi phát bất thường của mụn “thời vụ” 

Stress

Mụn và stress có mối liên hệ khá là chặt chẽ. Thông qua các cơ chế khác nhau, stress có thể làm cho tình trạng mụn sẵn có trở nên tệ hơn hay làm bùng phát mụn ở da không bị mụn. 

Khi chúng ta trải qua các sự kiện stress về mặt tinh thần hay thể chất, cơ thể sẽ phản ứng lại bằng cách tiết ra nhiều hơn các stress hormone để đối phó với stress. 

Khi não bộ ghi nhận một sự kiện stress nào đó, hypothalamus (vùng dưới đồi) tiết ra hormone CRH -> CRH kích thích anterior pituitary (thuỳ trước tuyến yên) tiết ra hormone ACTH -> ACTH khiến andrenal cortex (vỏ tuyến thượng thận) tiết ra cortisol và các hormone nam androgens.

Trong khi đó bên ngoài các tế bào dầu trong tuyến dầu của da có các receptor giống như các anten, tiếp nhận các hormone stress như cortisol và androgens, và từ đó bị kích thích và tăng sinh bã nhờn. 

Chu trình này được tóm tắt như sau:

 ↑ stress -> ↑ hormone CRH -> ↑ cortisol & androgens -> ↑ bài tiết dầu trên da

Ngoài ra, tăng sinh CRH còn làm gia tăng các cytokines inflammation trong tế bào da. Và như đã đề cập trong bài viết tuần trước inflammation là một trong các nguyên nhân chính yếu gây ra mụn. 

Stress cũng khiến cho khả năng tự chữa lành vết thương của cơ thể chậm hơn, vì vậy ảnh hưởng tới khả năng hồi phục của mụn. 

Rối loạn đồng hồ sinh học

Khi thức khuya vì làm ca đêm, học thi, hay luyện phim v..v sẽ ảnh hưởng xấu đến trạng thái cân bằng của glucose và lipid trong cơ thể, phản ứng insulin, rối loạn lưu thông vào buổi sáng và tối của các hormone như cortisol, triacylglycerol, norepinephrine. Các sự rối loạn này góp phần vào sự hình thành mụn. 

Caffein

Đặc biệt khi thức khuya thì chúng ta thường tăng cường tiêu thụ thức uống caffein ví dụ như trà, cafe, nước ngọt có gas, nước tăng lực, hoặc thậm chí hút thuốc. Ảnh hưởng của nicotine trong thuốc lá có thể gai tăng sự sừng hoá tế bào da, gây ra mụn ẩn. 

Bã nhờn

Các nguyên nhân khác có thể dẫn đến sự tăng bài tiết của tuyến bả nhờn bao gồm: thay đổi môi trường sinh hoạt, sự oxi hoá của squalene*, giảm linoleic acid*, và tia UV, tác nhân cản trở khả năng miễn dịch của da, dẫn đến sự hình thành dễ dàng của mụn.

*Squalene và linoleic acid là 2 thành phần của bã nhờn.

Các nguyên nhân khác:

Bên cạnh đó, các tác nhân khiến mụn trở nên nặng hơn bao gồm; 

  • môi trường nóng, nhiều độ ẩm là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây mụn P.acnes trú ngụ 
  • đổ mồ hôi thường xuyên
  • sử dụng mỹ phẩm, và sản phẩm làm đẹp
  • sử dụng các sản phẩm chăm sóc tóc chứa dầu
  • sử dụng corticosteroid và cố tình nặn mụn không đúng cách làm tăng số lượng mụn. 

Cần làm gì khi bị mụn “thời vụ”

Như đã đề cập bên trên, mụn này không mang tính tái phát theo chu kỳ như mụn “đèn đỏ” hàng tháng, khi mà bạn chỉ cần uống thuốc ngừa thai là sẽ trị được. Vì mụn này bị gây ra do một trong các nguyên nhân mà khi bạn khắc phục các nguyên nhân này thì mụn sẽ tự hết. Vì vậy khi điều trị mụn thời vụ, điều quan trọng là không nên can thiệp quá mạnh tay dẫn đến những tổn thương cho da. Nên nhớ rằng mụn này sẽ tự hết và mang tính tạm thời. Vì vậy các biện pháp điều trị giúp kiểm soát quá trình phát sinh và mức độ viêm sẽ là phương cách phù hợp nhất. 

Cách đơn giản nhất là sử dụng kem trị mụn chấm lên từng nốt mụn, kèm với kem dưỡng da. 

Sản phẩm chấm mụn chứa các thành phần như sau được khuyên dùng vì tính hiệu quả trong việc giảm viêm và giúp làm khô mụn nhanh: 

  • 5% Benzoyl Peroxide (phù hợp cho phụ nữ mang thai): La Roche-Posay Effaclar Duo
  • 2% Salicylic acid: Benzac acne solutions intensive spot
  • Dẫn xuất Salicylic acid – Lipohydroxy acid: LHA La Roche-Posay Effaclar A.I breakout corrector
  • 0.1% Adapalene: Differin gel

Moisturiser phải là loại dành cho da mụn, không quá dày, hay dầu. Chủ yếu chỉ để làm tăng độ ẩm, tái tạo sức khoẻ da, cân bằng tốc độ sừng hoá và bài tiết bã nhờn. 

Ngoài ra, các bạn cũng nên nhớ: 

  • Tránh dùng tay sờ, nặn mụn
  • Tránh sử dụng các sản phẩm có sẵn tại khách sạn, hay trên máy bay
  • Đi công tác hay làm việc ca đêm bạn nên makeup thật mỏng nhẹ, hoặc hoàn toàn không makeup. Đặc biệt phải tẩy trang trước khi ngủ
  • Việc lạm dụng thuốc chứa kẽm để trị mụn có thể gây ra các hậu quả ảnh hưởng đến công việc như dạ dạy khó chịu, tiêu chảy ra máu. Nếu uống kẽm thì liều lượng khuyến cáo cho người lớn và trẻ vị thành niên là 15mg/ngày

Hi vọng bài viết này hữu ích cho các bạn đang khổ sở vì những nốt mụn bất thường của mình nhé! 

Cảm ơn mọi người đã đọc bài ❤ 

Nguồn tham khảo

Melibary, Y. T., Alkeraye, S., Alnutaifi, K. A., Melibary, N. T., Alsuwaidi, M. K., & Algzlan, H. I. (2019). Occasional acne; an acne variant. Clinical, cosmetic and investigational dermatology, 12, 219–222. https://doi.org/10.2147/CCID.S199991

Barrault C, Garnier J, Pedretti N, et al. Androgens induce sebaceous differentiation in sebocyte cells expressing a stable functional androgen receptor. J Steroid Biochem Mol Biol. 2015;152:34-44. doi:10.1016/j.jsbmb.2015.04.005

Chen, Y., & Lyga, J. (2014). Brain-skin connection: stress, inflammation and skin aging. Inflammation & allergy drug targets, 13(3), 177–190. https://doi.org/10.2174/1871528113666140522104422

Zari, S., & Alrahmani, D. (2017). The association between stress and acne among female medical students in Jeddah, Saudi Arabia. Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatology10, 503–506. https://doi.org/10.2147/CCID.S148499

Pondeljak, N., & Lugović-Mihić, L. (2020). Stress-induced Interaction of Skin Immune Cells, Hormones, and Neurotransmitters. Clinical Therapeutics42(5), 757–770. https://doi.org/10.1016/j.clinthera.2020.03.008

DA MỤN: các câu hỏi thường gặP

Quá trình hình thành mụn bắt đầu từ các mụn ẩn li ti microcomedones (closed và open comedones) không viêm, sau đó chuyển thành mụn viêm, sưng đỏ, và có có mủ (papule – pustule) và cuối cùng là các mụn viêm to (nodule và cyst) Mụn viêm sưng đỏ ư? Cứ nặn đi đã … Continue reading “DA MỤN: các câu hỏi thường gặP”

Quá trình hình thành mụn bắt đầu từ các mụn ẩn li ti microcomedones (closed và open comedones) không viêm, sau đó chuyển thành mụn viêm, sưng đỏ, và có có mủ (papule – pustule) và cuối cùng là các mụn viêm to (nodule và cyst)

Mụn viêm sưng đỏ ư? Cứ nặn đi đã rồi tính sau! 

Mụn viêm sẽ có hai loại: có mủ (pustule) và không mủ (papule). Bạn chỉ được nặn loại mụn viêm đã có mủ đầu trắng. Loại mụn viêm không có mủ đầu trắng hoàn toàn không được nặn đến. 

Lí do đơn giản là vì mụn viêm không đầu là một khối sưng, đầy mạch máu, nên khi bạn cố nặn chỉ là lấy máu ra và hoàn toàn không giúp mụn xẹp đi. 

Mụn đã có đầu trắng có thể nặn. Bởi vì chất mủ trắng cho thấy mụn đã được hệ miễn dịch của da can thiệp để chống lại các vi khuẩn gây mụn P. Acnes (hay C. Acnes). Chất dịch màu trắng là các neutrophils chết đi trong quá trình chiến đấu chống lại vi khuẩn P.acnes. Khi bạn dùng kim chích để mở đầu mụn và lấy dịch trắng ra, bạn nên thoa một lớp serum trị mụn có tính antibacterial, hoặc đơn giản hơn là Bepanthen. Điều này giúp mụn mau lành và chống tái viêm nhiễm. 

Tuy nhiên, việc đầu tiên khi bạn thấy các nốt mụn vừa mới nổi lên và sưng đỏ là xức ngay các loại gel trị mụn để kìm hãm quá trình sưng viêm, diệt bacteria trong mụn. Điều này là rất quan trọng vì mức độ viêm của mụn sẽ quyết định mức độ sẹo để lại sau đó. Các mụn để lại sẹo rỗ là do mức độ viêm sâu xuống lớp trung bì khiến một phần lớn cấu trúc da trung bì bị mất đi. Ngoài ra các gel trị mụn này còn giúp khô nhân mụn mà đôi khi bạn không cần nặn vì mụn tự khô và rớt còi đi.  

Các sản phẩm spot treatment cho mụn mình từng dùng qua và thấy hiệu quả là 

Dầu gây ra mụn, nên loại bỏ hết dầu sẽ hết mụn!

Đúng. Nếu phương cách bạn loại bỏ dầu là dùng thuốc uống Vitamin A do bác sĩ bạn cung cấp. Khi dùng thuốc này, tất cả các tuyến dầu trên cơ thể bạn sẽ ngưng hoạt động. Móng tay/chân, tóc và da bạn sẽ trở nên rất khô và dễ tổn thương vì hoàn toàn không có lớp dầu bảo vệ. 

Sai. Nếu bạn sử dụng các loại sửa rữa mặt mạnh nhằm loại bỏ hết dầu trên da. Da mụn cần một sự cân bằng giữa lượng dầu và nước, và sự cải thiện chất lượng của dầu. Điều tối kị trong chữa trị mụn là cố gắng làm khô đi lượng dầu trên da. Các loại sữa rửa mặt làm sạch dầu trên da đồng thời cũng gây ra tổn hại cho các chất dầu tốt vốn nên được giữ lên giữa các tế bào da, nhằm giữ lại độ ẩm của da. Rửa mặt bằng các loại sữa rửa mặt này đồng nghĩa với việc da sẽ mất đi lượng độ ẩm cần thiết cho hoạt động tẩy da chết tự nhiên của da. Điều này dẫn đến da chết không thể tự mất đi, mà đóng thành nhiều lớp và rơi vào các lỗ chân lông, gây tắc nghẽn và sinh thêm mụn. 

Bạn nên chọn loại sửa rửa mặt có chất tạo bọt nhẹ để có thể vừa rửa sạch da nhưng lại không làm mất đi độ ẩm của da. Sửa rửa mặt phù hợp với da sẽ không để lại cảm giác da căng, hay khô sau khi rửa cho dù bạn rửa 2-3 lần liên tục. 

Các máy rửa mặt giúp cho da được rửa sạch hơn. Tuy nhiên mụn viêm, mủ không nên  dùng vì có thể gây bể mụn và sự lây lan qua các vùng lân cận. 

Quan trọng nhất là luôn luôn rửa mặt 2 lần vào buổi tối. Lần rửa đầu tiên giúp loại bỏ các bụi bẩn, makeup trên da. Lần rửa thứ 2 giúp thông thoáng các lỗ chân lông và làm sạch các chất dơ mà lần rửa đầu tiên còn sót lại. 

Vì sao một người da dầu nhưng lại hoàn toàn không bị mụn, trong khi mình lại bị mụn?

Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác chứ không chỉ vì lượng dầu trên da. 

Khi so sánh với da khoẻ, da mụn có các sự khác biệt về lượng dầu, P.acne, sừng hoá trong lỗ chân lông. Tất cả các nguyên nhân này dẫn đến một tình trạng chung là VIÊM (inflammation), từ đó dẫn đến mụn.

a. Lượng dầu:
  • Hàm lượng các chất squalene, linoleic acid, và fatty acid bị mất cân bằng
  • Lượng oxi-hoá squalene cao, gây ra viêm và sự hình thành mụn ẩn. Đồng thời lượng Vitamin E – chất chống antioxidant lại thấp ở da mụn, khiến khả năng ngưng quá trình oxi-hoá của squalene kém hiệu quả. 
  • Giảm linoleic acid (6% thay vì 45%) cộng với thay đổi trong tỉ lệ chất fatty acids. Các fatty acids lại đóng vai trò trong việc điều phối viêm, sừng hoá lỗ chân lông, khả năng bảo vệ da, dẫn đến việc tăng TEWL (Trans-epidermal water loss – nước trong da bốc hơi dẫn đến da thiếu ẩm)
b. Vi khuẩn P.acne:
  • Da khoẻ mạnh và da thường đều có sự hiện diện của P.acne bacteria. Tuy nhiên, da mụn có chủng P.acne khác với da khoẻ mạnh. 
  • P.acne đóng vai trò trong việc viêm sưng của mụn. 
  • Vi khuẩn này sống tốt trong môi trường không có không khí. Vì vậy khi lỗ chân lông bị sừng hoá sẽ là môi trường lý tưởng cho chúng phát triển.
c. Sừng hoá trong lỗ chân lông
  • Gây ra bởi việc tăng lượng dầu, các tế bào da đóng lại trong tuyến dầu và lỗ chân lông, giảm linoleic acid, tăng sự oxi-hoá của squalene, tăng androgen, P.acnes. 
d. Di truyền

Đây cũng là một yếu tố khá quan trọng, vì nếu người thân trong gia đình bạn bị mụn thì bạn sẽ có khả năng bị mụn. 

Peel da sẽ trị được mụn! 

Đúng. Nếu bạn peel da đúng cách và peel bạn sử dụng phù hợp với độ khoẻ của da bạn. Đồng thời sử dụng kết hợp các sản phẩm và phương pháp điều trị phù hợp trong quá trình peel. Tuy nhiên, tuỳ vào cấp độ nặng nhẹ của mụn mà bạn có nên peel hay không. Đối với các mụn khá nặng thì bạn nên cân nhắc việc dùng thuốc trị mụn do bác sĩ kê đơn thay vì lạm dụng peel. 

Sai. Nếu bạn:

  • Không dưỡng (prep) da trước khi peel, khiến da bị sốc, kích ứng, hiệu quả sau peel thấp hoặc không mong muốn (phỏng da chẳng hạn)
  • Dùng peel trong thời gian quá dài và thường xuyên. 
  • Dùng nồng độ peel quá cao ngay lúc ban đầu thay vì bắt đầu từ liều lượng peel thấp trước sau đó tăng dần nồng độ. 

Các dấu hiệu cho thấy bạn peel không đúng cách: 

  • Da rát đỏ, sần, khô, dễ kích ứng trong thời gian dài sau peel và không có dấu hiệu thuyên giảm hay tự hồi phục. 
  • Mặt sưng ở những vị trí không peel. Ví dụ bạn peel ở trán, gò má, cằm nhưng lại sưng toàn bộ gương mặt bao gồm mí mắt, hốc mắt đến mức độ không mở mắt lên được. Dấu hiệu sưng toàn bộ gương mặt cho thấy bạn dị ứng với thành phần trong peel và lúc này bạn sẽ cần uống thuốc do bác sĩ chỉ định (không phải từ các bạn nào giới thiệu, hay người không có bằng cấp nhé vì thuốc không phải supplement bạn mua trong siêu thị mà ai cũng có thể chỉ bạn uống thuốc gì được). 

4 dấu hiệu chính giúp bạn nhận ra DỊ ỨNG là: Heat (Nóng) – Redness (Đỏ) – Swelling (Sưng) – Pain (Đau)

Ăn uống như thế nào khi bị mụn?

Nhiều bài nghiên cứu gần đây cho thấy rằng sữa và các chế phẩm từ sữa có liên quan đến sự hình thành mụn. Đặc biệt là sữa skim milk có khả năng làm mụn trở nên nặng hơn. Nghiên cứu năm 2005 cho thấy những phụ nữ uống hơn 2 ly sữa skim milk hàng ngày, có nguy cơ bị mụn cao hơn 44% . Các bài nghiên cứu khác cho thấy các loại sữa nói chung, và thậm chí kem🍦 cũng làm tăng nguy cơ bị mụn. Tuy nhiên, nghiên cứu không cho thấy có mối liên hệ giữa tình trạng mụn với phô-mai, hay ya-ua.

Ngoài ra chế độ ăn uống chứa nhiều đường có sự ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ trầm trọng của mụn. Một bài nghiên cứu ở Úc, và một bài khác ở Hàn Quốc cho thấy rằng khi giảm lượng đường trong chế độ ăn uống hàng ngày, các tuyến dầu trong da trở nên nhỏ hơn, mức androgen giảm đi và tình trạng mụn được cải thiện rõ rệt. 

Chúng ta thường nghe nói khi bị mụn, bạn nên ăn hay uống dầu cá, probiotics, chất chống oxi-hoá, và kẽm. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu khẳng định sự hiệu quả của các thực phẩm hỗ trợ này chưa nhiều. 

Đột ngột bị mụn trong khi trước giờ không hề bị?

Vì mụn còn được gây ra bởi các nguyên nhân khác như oxidative stress. Tức là khi bạn bị stress hay áp lực công việc và cuộc sống nặng nề, da bạn sẽ phải chịu các ảnh hưởng gián tiếp và mụn sẽ xuất hiện. Trong bài viết sau mình sẽ cùng tìm hiểu mối liên hệ giữa stress và mụn nhé. 

 Phác đồ điều trị mụn

Dưới đây là phát đồ điều trị mụn được đề xuất bởi Zaenglein et al. (2014). Theo như phát đồ này, thì khi bạn rơi vào tình trạng Severe (nghiêm trọng), thì bạn nên đến bác sĩ để được lời khuyên về thuốc uống như kháng sinh, Vitamin A, thuốc ngừa thai (dành cho các bạn nữ), steroid, hay kết hợp các thuốc thoa ngoài da chứa khánh sinh, Vitamin A, hay Benzoyl Peroxide. 

Lời nhắn nhủ: mình từng thấy qua các bạn bị mụn khá nặng tìm đến các spa không chuyên và được cho thuốc rượu hay những loại kem không rõ thành phần và nguồn gốc. Vừa mất tiền mà còn hỏng cả da rất thương. Dù bạn không biết chuyên môn về da, hay mỹ phẩm, hãy kiểm tra nguồn gốc và thành phần sản phẩm trước khi dùng lên mặt nhé. Ngoài ra, việc nặn mụn vô tội vạ bằng cách lể mụn ra sẽ dẫn đến tình sạng sẹo lõm sau khi mụn được điều trị. Nguyên tắc căn bản và quan trọng nhất để không bị sẹo mụn chính là can thiệp càng sớm càng tốt nhằm giảm thiểu sưng viêm ở tầng trung bì của da, nơi chứa toàn bộ cấu trúc collagen, elastin, mạch máu, v..v cho việc tái cấu trúc da sau tổn thương. 

Hi vọng bài viết đã cung cấp cho các bạn những thông tin hữu ích nhé 🙂

Nguồn tham khảo:

Zouboulis, C. C., Katsambas, A. D., & Kligman, A. M. (2014). Pathogenesis and treatment of acne and rosacea. Springer.

Zaenglein, A. L., Pathy, A. L., Schlosser, B. J., Alikhan, A., Baldwin, H. E., Berson, D. S., Bowe, W. P., Graber, E. M., Harper, J. C., Kang, S., Keri, J. E., Leyden, J. J., Reynolds, R. V., Silverberg, N. B., Stein Gold, L. F., Tollefson, M. M., Weiss, J. S., Dolan, N. C., Sagan, A. A., … Bhushan, R. (2016). Guidelines of care for the management of acne vulgaris. Journal of the American Academy of Dermatology, 74(5), 945–973. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2015.12.037

Lee, K. C., Wambier, C. G., Soon, S. L., Sterling, J. B., Landau, M., Rullan, P., & Brody, H. J. (2019). Basic chemical peeling: Superficial and medium-depth peels. Journal of the American Academy of Dermatology81(2), 313–324. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2018.10.079

O’Connor, A. A., Lowe, P. M., Shumack, S., & Lim, A. C. (2018). Chemical peels: A review of current practice. The Australasian Journal of Dermatology59(3), 171–181. https://doi.org/10.1111/ajd.12715

Melibary, Y. T., Alkeraye, S., Alnutaifi, K. A., Melibary, N. T., Alsuwaidi, M. K., & Algzlan, H. I. (2019). Occasional acne; an acne variant. Clinical, cosmetic and investigational dermatology, 12, 219–222. https://doi.org/10.2147/CCID.S199991

Zari, S., & Alrahmani, D. (2017). The association between stress and acne among female medical students in Jeddah, Saudi Arabia. Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatology10, 503–506. https://doi.org/10.2147/CCID.S148499

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Pondeljak, N., & Lugović-Mihić, L. (2020). Stress-induced Interaction of Skin Immune Cells, Hormones, and Neurotransmitters. Clinical Therapeutics42(5), 757–770. https://doi.org/10.1016/j.clinthera.2020.03.008

SẢN PHẨM TRỊ THÂM NÁM

Sau bài viết trước về thành phần trị nám hiệu quả, hôm nay mình muốn giới thiệu đến mọi người những sản phẩm mình có cơ hội sử dụng cho bản thân cũng như cho các khách hàng của mình từ kinh nghiệm điều trị nhé. 

Hai loại sản phẩm chủ yếu cần có trong việc chữa trị thâm, nám bao gồm:

  • Kem chống nắng
  • Serum và Kem điều trị có tính tẩy da chết và ức chế enzyme tyrosinase 

I. KEM CHỐNG NẮNG

Các bạn có thể dùng các loại có SPF30+, PA++++. Chỉ số PA thì tuỳ vào nguồn gốc của sản phẩm do regulation của mỗi nước khác nhau. Các sản phẩm của Nhật và Hàn thường sẽ có thêm chỉ số PA. Chỉ số PA cho biết khả năng chống tia UVA của sản phẩm. Tuy nhiên, không nên xem sản phẩm có chỉ số PA là tốt hơn các sản phẩm không có chỉ số PA trong khả năng chống nắng nhé mọi người. 

Cá nhân mình sử dụng 2 lớp chống nắng hàng ngày:  một lớp dạng kem, và một lớp dạng bột. Vì da mình khá dầu nên lớp bột cũng giúp phần nào trong việc giữ cho da bớt bóng nhờn. 

Với da dầu La Roche-Posay khá phù hợp vì dùng sau vài giờ thì mặt khá ẩm và có bóng dầu nhẹ. Còn da dầu thì nên tránh xa nha vì mình dùng khoảng vài tiếng thôi mà da ướt dầu kinh khủng. Các loại khác trong ảnh không bóng và rít nên khá phù hợp cho da Oily-Combination.

II. SERUM VÀ KEM DƯỠNG 

Sản phẩm dưỡng da được chia theo 2 loại: cosmeceutical và cosmetic. Vậy sự phân loại này là như thế nào? 

COSMECEUTICALS

Cosmeceuticals dùng để chỉ các chất hay sản phẩm có khả năng can thiệp vào các hoạt động sinh lý của da. Có độ đậm đặc (concentration) cao. Chứa đa phần là các active ingredients (vitamin A, B,C, v.v.). 

Để mua được các sản phẩm này, các bạn cần đến các spa, trung tâm chăm sóc da, hay từ các phòng mạch bác sĩ. Vì đặc tính của sản phẩm có độ đậm đặc cao, và nhiều active ingredients, nên cần có sự tư vấn và hướng dẫn sử dụng từ các chuyên viên về da nhằm tránh việc sử dụng không đúng cách, dẫn đến kích ứng da hay phản ứng phụ không cần thiết. 

Một vài thương hiệu cosmeceutical mình từng dùng và khá thích gồm có Mesoestetic, Medik8, DMK, Synergie, Intraceutical, Dermalogica, Hydropeptide. 

Dưới đây là các sản phẩm mình từng dùng qua và cho kết quả rất khả quan.

COSMETICS

Cosmetics dùng để nói chung về các thương hiệu mỹ phẩm bạn có thể mua dễ dàng ở các trung tâm mua sắm hay siêu thị. Các sản phẩm này sẽ có độ đậm đặc hoặc hàm lượng chất active ingredients thấp hơn sản phẩm cosmeceutical. Khả năng gây phản ứng phụ vì vậy sẽ thấp hơn. Các thương hiệu được xem là cosmetic dòng premium gồm có SKII, Sisley, Cle De Peu, La Prairie, Lamer, Lancome, Shiseido, Chanel, Dior, v..v.

Bản thân mình không dùng các sản phẩm cosmetic trong các bước skincare hằng ngày nên sẽ không có nhiều recommendations từ các brand này. Một phần do các nhãn hiệu premium giá thành sản phẩm khá cao, nhưng active ingredients có thể không thể so sánh với cosmeceutical nên mình thiên dùng về cosmeceutical hơn. 

Ngoài ra, các thương hiệu tầm trung như La Roche Posay, Avene, Vichy,.. giá sản phẩm mềm hơn nhưng chất lượng sản phẩm khá tốt. 

Gần đây có sự góp mặt của thương hiệu Ordinary trong thị trường skincare. Một điều khá thú vị về brand này là các sản phẩm có giá cực kì dễ chịu, nhưng thành phần lại tương tự các sản phẩm của cosmeceutical. Mình từng dùng qua một vài sản phẩm của Ordinary, có loại thì dùng khá ổn, có loại bị kích ứng ngay và luôn hơ hơ. Nên lời khuyên chung trong việc dùng các sản phẩm có chứa active ingredients là bắt đầu với độ đậm đặc (chỉ số % của một chất) thấp, dùng 1-2 ngày một tuần, sau đó sẽ tăng dần độ đậm đặc và số ngày sử dụng. 

Để trị thâm, nám, điều quan trọng hàng đầu là sự kiên nhẫn và chống nắng mọi lúc mọi nơi. Hi vọng các bạn nhận được thông tin hữu ích từ bài viết của mình. 

Các bạn đã dùng qua sản phẩm trị thâm/nám nào hiệu quả không? Nếu có thì hãy chia sẻ với mình nhé! 

Nguồn tham khảo:

HOLLINGER, J. C., ANGRA, K., & HALDER, R. M. (2018). Are Natural Ingredients Effective in the Management of Hyperpigmentation? Journal of Clinical & Aesthetic Dermatology11(2), 28–37.

Plensdorf, S., Livieratos, M., & Dada, N. (2017). Pigmentation Disorders: Diagnosis and Management. American Family Physician96(12), 797–804.

Chan, I. L., Cohen, S., da Cunha, M. G., & Maluf, L. C. (2019). Characteristics and management of Asian skin. International Journal of Dermatology58(2), 131–143. https://doi.org/10.1111/ijd.14153

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

Yin, N. C., & McMichael, A. J. (2014). Acne in patients with skin of color: practical management. American Journal of Clinical Dermatology15(1), 7–16. https://doi.org/10.1007/s40257-013-0049-1

THÀNH PHẦN DƯỠNG DÀNH CHO DA THÂM, NÁM

Bài viết hôm nay tóm tắt các thành phần chữa trị thâm nám an toàn và hiệu quả.

Xin chào mọi người!

Trong bài viết lần trước về nám melasma mình chưa có dịp bàn đến các thành phần mỹ phẩm có thể giúp da cải thiện thâm nám hiệu quả. Vì vậy trong bài viết lần này mình sẽ viết đôi điều về các thành phần này nhé. 

Trong bài trước mình có tóm sơ quá trình hình thành nám là do các melanocyte sản xuất ra các túi melanosome chứa hạt melanin, các túi melanosome này sau đó được chuyển phát đến các hộ keratinocytes xung quanh. 

Có một cụm từ gọi là “Epidermal Melanin-Unit”, nôm na là đơn vị sắc tố da. Đơn vị này được quy định và bao gồm: 1 melanocyte, 30-40 keratinocyte, 1 langerhans cells liên kết với nhau bởi các xúc tua của melanocyte. 

Trung bình mỗi 1 melanocyte có thể chuyển melanin đến khảong 30-40 hộ dân cư keratinocyte trong xóm 😆

Trong các thành phần trị nám, thường thấy nhất là các chất có chức năng kìm hãm ezyme tyrosinase. Vậy tyrosinase là gì? 

TYROSINASE

Tyrosinase là một chất enzyme đóng vai trò cực kì quan trọng trong toàn bộ chu trình hình thành sắc tố. Các túi melanosome trong bước phát triển đầu tiên cần có enzyme tyrosinase để có thể chuyển hoá tyrosine thành L-DOPA, chuyển hoá L-DOPA thành DOPA-quinone, DOPA-quinone nếu có sự hiện diện của cystine chuyển hoá thành pheomelanin. Nếu không có sự hiện diện của cystine, thì sẽ chuyển thành eumelanin.  

Quá trình chuyển hoá của tyrosine thành melanin (nguồn)
MELANOSOME

Các chất trong mỹ phẩm cũng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của melanosome. Chu trình này tóm gọn trong hình như sau: 

  • Giai đoạn 1: Một túi rỗng được hình thành trong melnocyte. 
  • Giai đoạn 2: Túi rổng bắt đầu hơi dài ra thành hình bầu dục. Hình thành các sợi “fibrillar matrix” (tưởng tượng nó như dây phơi quần áo cho dễ hình dung) để cho hạt melanin sau này bám vào. Thời điểm này bắt đầu có sự xuất hiện của em tyrosinase. Em tyrosinase sẽ bắt tay vào chuyển hoá tyrosine thành L-DOPA như vừa bàn bên trên
  • Giai đoạn 3: bắt đầu sản xuất hạt melanin theo dạng hàng loạt, các hạt melanin lần lượt được gắn lên các sợi dây phơi đồ. 
  • Giai đoạn 4: Toàn bộ melanosome được no nê đầy ắp các hạt melanin (nên nhìn trong hình nó rất chi là đen) 
Quá trình phát triển của melanosome (nguồn)
CÁC CHẤT LÀM SÁNG DA

Bản bên dưới liệt kê khá chi tiết các chất được dùng trong sản phẩm trị thâm, nám cùng với cách thức hoạt động của chúng trong việc ngăn ngừa quá trình tạo sắc tố da. Mọi người xem tham khảo nhé. 

Trong bài tuần sau mình sẽ giới thiệu một vài sản phẩm trị thâm nám mà bản thân đã sử dụng qua, hoặc nhận được phản hồi tốt từ các khách hàng của mình cho mọi người nhé!

Stay tuned! 💕

References:

Cichorek, M., Wachulska, M., & Stasiewicz, A. (2013). Heterogeneity of neural crest-derived melanocytes. Open Life Sciences, 8(4). https://doi.org/10.2478/s11535-013-0141-1

Chaowattanapanit, S., Silpa-archa, N., Kohli, I., Lim, H. W., & Hamzavi, I. (2017). Postinflammatory hyperpigmentation: A comprehensive overview. Journal of the American Academy of Dermatology, 77(4), 607-621. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2017.01.036

Sahu PJ, Singh AL, Kulkarni S, Madke B, Saoji V, Jawade S. (2020). Study of oral tranexamic acid, topical tranexamic acid, and modified Kligman’s regimen in treatment of melasma. Journal of Cosmetic Dermatology. 19(6):1456-1462. doi:10.1111/jocd.13430

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

Plensdorf, S., Livieratos, M., & Dada, N. (2017). Pigmentation Disorders: Diagnosis and Management. American Family Physician96(12), 797–804.

Nám – MELASMA

Nám được đề cập trong bài viết hôm nay có từ tiếng anh chuyên môn là Melasma. 

Trước khi bàn về một số phương thức trị nám không hiệu quả trên thị trường hiện nay, trước hết chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem khi da bị nám, thì điều gì xảy ra bên dưới da nhé. 

Nám melasma thông thường ảnh hưởng phụ nữ, vẫn có thể xảy ra ở nam giới nhưng khá hiếm. Thường xuất hiện dưới dạng mảng da sậm màu, khá to, ở vị trí trán, đối xứng hai bên má, môi trên, và cằm.

Ảnh nám da melasma các bạn có thể xem tại đây

SẮC TỐ DA 

Các nguyên tố nằm trong chu trình tạo sắc tố da bao gồm:

  • Melanocyte (tế bào hắc tố): tạo ra melanosome chứa melanin. Có cấu trúc dạng xúc tua. Nằm ở basal layer (lớp đáy của thượng bì).
  • Melanosome: túi nhỏ được tạo ra bên trong tế bào melanocyte, chứa nhiều hạt melanin, sẵn sàng được chuyển tới các keratinocyte (tế bào da) xung quanh 
  • Melanin (hắc tố da): pheumelanin màu vàng/đỏ hay eumelanin nâu đậm/đen. Loại và số lượng melanin được tạo ra sẽ quyết định màu da của bạn. Ví dụ da nâu thì có eumelanin, và da trắng thì sẽ có pheumelanin.

Quá trình hình thành melanin trong keratinocyte nôm na như sau cho dễ hiểu: 

Melanocyte sẽ sản sinh ra các túi melanosome, sau đó chuyển phát nhanh các túi melanosome này đến các hộ dân cư keratinocyte (tế bào da) xung quanh, sau đó các melanosome sẽ được các hộ dân cư melanocyte này nuốt vào bụng. Và vì thế mà keratinocyte có sắc tố bên trong mình. 

Qúa trình chuyển phát melanin từ melanocyte tới keratinocyte (nguồn ảnh)

NGUYÊN NHÂN NÁM

Các nhân tố chính gây ra melasma hay khiến melasma trở nặng hơn bao gồm: tia UV, hormon, và di truyền 

UVR

UVR: ánh nắng mặt trời có thể kích thích sự sản sinh melanin của các tế bào hắc tố bằng cách tạo ra nhiều các tác nhân oxy-hoá (Reactive oxygen species – ROS) tiêu biểu là nitric oxide (NO). Các tia UVR tác động lên keratinocyte và fibroblast, khiến 2 tế bào này tiết ra chất gọi là stem cell factor (SCF), một ligand cho enzyme tyrosine kinase bám vào và từ đó kích thích sự tăng trưởng của tế bào melanocyte. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy có một sự gia tăng giải mã mRNA trên đoạn gene liên quan sự sản sinh của tế bào melanocyte tại vùng da bị nám. Bên cạnh đó, phơi nắng cũng kích thích tế bào keratinocyte tiết ra VEGF, kích thích sự tăng trưởng số lượng mạch máu mới, tăng cường nuôi dưỡng các tế bào melanocyte xung quanh. 

GENE DI TRUYỀN

Các nghiên cứu cũng cho thấy 55-64% các trường hợp bị melasma có tiền sử người thân trong gia đình bị melasma trước đó. Điều này cho thấy có mối liên hệ khá cao giữa gene di truyền và khả năng bị nám. 

HORMONE

Hormone góp phần khá lớn vào sự hình thành melasma nên melasma thường xuất hiện sau khi sinh, do uống thuốc ngừa thai, hay đang phải điều trị bằng các phương thức nội tiết tố khác

CẤU TRÚC DA BỊ MELASMA 

  • Thượng bì:
    • số lượng melanin được sản sinh tăng rõ rệt ở tất cả các lớp của thượng bì
    • lớp basement membrane (liên kết giữa thượng và trung bì) bị phá vỡ, mỏng hơn, góp phần vào sự di cư của melanocyte và melanin từ lớp tế bào đáy xuống trung bì
  • Trung Bì
    • Hiện diện của đại thực bào ngậm hắc tố da 
    • Tồn tại các sợi elastin kém chất lượng 
    • Tăng sinh mast cells 
    • Tăng sinh mạch máu  

CÁC LOẠI MELASMA

Do đặc tính chuyên biệt của melasma là sự xâm phạm của tế bào hắc tố xuống bên dưới trung bì cộng với lớp basement membrane bị phá vỡ, nên ở melasma chúng ta có thể thấy phần hắc tố da tồn tại ở cả trung bì và thượng bì. 

Có ba dạng melasma chính: thượng bì (epidermal), trung bì (dermal) và hỗn hợp (mixed). Phần lớn melasma có dạng hỗn hợp. Nghĩa là có sự hiện diện của hắc tố ở cả 2 lớp da thượng và trung bì. 

ĐIỀU TRỊ

Các phương pháp điều trị phổ biến được ghi nhận trong các bài nghiên cứu trị melasma bao gồm:

First-line treatment – Thuốc thoa

Các loại thuốc thoa này cần có toa chỉ định của bác sĩ. Loại thuốc có tính hiệu quả cao nhất là hydroquinone, bên cạnh các loại khác như mequinone, azeilic acid, tranexamic acid, retinoic acid, v.v. 

Nguyên lý hoạt động của thuốc xức là tác động vào các bước trong chu trình hình thành melanin mình tóm tắt bên trên. Các nguyên lý bao gồm: ức chế enzyme tyrosinase (enzyme kích thích hoạt động của melanocyte), kìm hãm sự hình thành hay quá trình chuyển phát melanosome, chống oxy-hoá, hay thúc đẩy quá trình tái tạo da. 

Second-line treatment – Thay da hoá học

Hay còn có tên là chemical peel. Các loại peel thường dùng chuyên trị melasma bao gồm AHA, BHA, Jessner’s solution, TCA peel, retinoic acid peel. Các peel dùng để điều trị melasma thường có nồng độ khá cao để đạt được hiệu qủa mong muốn. Thường sau khi thay da hoá học, da sẽ có tình trạng tróc da nhẹ hay nhiều tuỳ vào quá trình priming (dưỡng da) trước khi tiến hành peel. Khi da được priming đúng cách, peel sẽ có hiệu quả cao hơn vì dễ dàng thấm vào da, cũng như giảm thiểu phản ứng phụ như tái phát hay PIH.

Nguyên lý hoạt động của thay da hoá học là sự thay đi lớp da chứa melanin ở thượng bì, và thúc đẩy quá trình tái tạo da mới không chứa melanin. Tuy nhiên, melasma không chỉ tồn tại ở thượng bì mà còn ở trung bì, và ở trung bì hoàn toàn không có quá trình thay da xảy ra. Vì vậy các peel hoá học không cải thiện được phần melanin ở lớp da này.

Third-line treatment – Laser hoặc IPL

Khắc phục được tình trạng nám ở cả trung bì và thượng bì bằng cách phá vỡ các melanin trong túi melanosome hay keratinocyte. IPL/Laser được xem như là third-line treatment khi thuốc thoa hay thay da hoá học không có hiệu quả đáng kể cho các melasma bị tái phát. Điểm cần lưu ý và cân nhắc khi lIPL/aser để điều trị melasma là: phương thức này chỉ làm mất đi các melanin của melasma, nhưng không thể trị dứt điểm melasma. Vì như trên mình đã giải thích là quá trình hình thành hắc tố được sản sinh từ melanocyte, muốn chữa tận gốc thì phải can thiệp vào trong chu trình hình thành melanin. Ngoài ra, phương thức này có nhiều khả năng gây ra PIH và tỷ lệ tái phát khá cao, vì vậy cần hỗ trợ dùng thêm thuốc thoa theo chỉ định bác sĩ hoặc các serum/kem dưỡng có thành ức chế chu trình tạo melanin.  

Nhìn chung, cách thức chữa trị hiệu quả nhất cho bệnh melasma chính là kết hợp nhiều phương thức điều trị theo phát đồ điều trị hợp lý. 

Điểm cần lưu ý là melasma sau điều trị có khả năng tái phát là khá cao. Vì vậy sau khi được chữa trị bằng peel hay IPL/Laser, các bạn sẽ cần tiếp tục điều trị bằng thuốc thoa. 

CÁC CÁCH ĐIỀU TRỊ NÁM DA TRÊN THỊ TRƯỜNG 

MÁY HÚT NÁM

Dạo gần đây newsfeed facebook của mình liên tục xuất hiện các quảng cáo về máy hút nám của một thương hiệu khá nổi tiếng trên thị trường (sorry các bạn, mình không tiện nói ra tên thương hiệu ở đây). Căn bản máy này hoạt động dựa trên nguyên lý Galvanic. Nếu có dịp mình sẽ bàn sau về Galvanic nhé. Nhưng việc dùng cụm từ “hút nám” nghe thật hấp dẫn, và cũng hết sức sai lệch trong việc trị nám. Vì hút thì thì hút như thế nào nhỉ? Melanin nằm trong keratinocyte ở mấy lớp da thượng bì rồi cả trung bì. Với máy galvanic hoàn tòan không hoạt động dựa trên cơ chế hút gì cả. Nhưng quảng cáo thì cam đoan hết nám trong vòng vài tháng. Có chút vi diệu.

KEM TRỘN

Thành phần không rõ ràng, hàm lượng không được công khai. Đại đa số theo mình được biết là chứa corticosteroid làm mỏng da qua thời gian. Mình từng điều trị da cho các khách từng xài qua kem trộn, có người may mắn da hồi phục tốt, có người thì da hỏng luôn cứ bị nổi mụt sần li ti hết cả mặt mà ngay cả bác sĩ da liễu cũng không giúp được gì. Các bạn dùng tẩy da, kem trộn, hay can thiệp không đúng cách sẽ càng làm khả năng điều trị thành công thấp đi. 

Bài viết khá dài rồi nên mình sẽ tạm ngưng ở đây, ở phần sau có lẽ sẽ viết tiếp về các cách điều trị nám khác trên thị trường cho mọi người cùng đọc nhé. 

Nguồn tham khảo

Kwon, S., Na, J., Choi, J., & Park, K. (2018). Melasma: Updates and perspectives. Experimental Dermatology, 28(6), 704-708. https://doi.org/10.1111/exd.13844

Trivedi, M., Yang, F., & Cho, B. (2017). A review of laser and light therapy in melasma. International Journal of Women’s Dermatology3(1), 11-20. https://doi.org/10.1016/j.ijwd.2017.01.004

Rodrigues, M., & Pandya, A. G. (2015). Melasma: clinical diagnosis and management options. Australasian Journal of Dermatology56(3), 151–163. https://doi.org/10.1111/ajd.12290

McKesey, J., Tovar-Garza, A., & Pandya, A. G. (2020). Melasma Treatment: An Evidence-Based Review. American Journal of Clinical Dermatology21(2), 173–225. https://doi.org/10.1007/s40257-019-00488-w

Tawfic, S. O., Abdel Halim, D. M., Albarbary, A., & Abdelhady, M. (2019). Assessment of combined fractional CO 2 and tranexamic acid in melasma treatment. Lasers in Surgery and Medicine51(1), 27–33. https://doi.org/10.1002/lsm.23032

CẤU TRÚC DA – TRUNG BÌ & RẠN DA

Trong tuần trước mình đã cùng nhau tìm hiểu cấu trúc thượng bì của da, hôm nay mình sẽ xem cấu trúc ở lớp trung bì bao gồm những gì nhé 

Lớp trung bì được cấu trúc bởi hệ thống collagen và sợi elastin. Cấu trúc này tạo nên sức dẻo dai đàn hồi cho da để khi chúng ta kéo da, da sẽ trở lại hình dáng ban đầu. So với lớp thượng bì, thì lớp trung bì dày hơn rất nhiều. Độ dày của trung bì cũng thay đổi tuỳ thuộc vào từng vị trí trên cơ thể. Tương tự như ở lớp thượng bì, vị trí dày nhất cũng là ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. 

Ở lớp trung bì, chúng ta có thể thấy sự hiện diện của các tế bào sau: 

  • Fibroblast: chiếm phần lớn số lượng tế bào lớp trung bì. Có vai trò tạo collagen, elastin fibres, proteoglycans, growth factors (TNF-b), cytokines (TNF-a), và matrix metalloproteinases (MMPs, chức năng tiêu huỷ collagen). Thông quá các chức năng này, ta có thể thấy vai trò của fibroblast quan trọng như thế nào trong quá trình tái tạo da và chữa lành vết thương
  • Đại thực bào (macrophage)
  • Tế bào mỡ: chiếm một phần nhỏ, vì ngay bên dưới trung bì là lớp mỡ

Ngoài ra, còn có các thành phần như:

  • Mạch máu, mạch bạch huyết
  • Dây thần kinh cảm giác 
  • Tuyến dầu, tuyến mồ hôi 
  • Lỗ chân lông

Do ở lớp thượng bì hoàn toàn không có mạch máu, lớp trung bì có vai trò quan trọng quyết định tự tồn tại của thượng bì. 

Lớp trung bì sẽ được chia thành 2 phần chính đó là : papillary dermis, mỏng nằm phía trên, và reticular dermis dày hơn ở phía dưới 

Papillary dermis

Lớp này chiếm khoảng 1/5 độ dày của trung bì. Được cấu tạo bởi:

  • nhiều sợi collagen và elastin mỏng
  • các sợi mạch máu nhỏ nằm ngay bên dưới thượng bì
  • các đầu thần kinh cảm giác: để nhận biết cảm giác light touch, nóng, lạnh, đau, nhột, và ngứa

Reticular dermis

(reticul = giống hệ thống mạng lưới)

Vị trí tiếp nối giữa thượng bì và trung bì có hình dạng gợn sóng. Cấu trúc gợn sóng này giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa trung và hạ bì. 

Diện tích bề mặt tiếp xúc nhiều hơn sẽ tạo điều kiện cho nhiều mạch máu tập trung ngay bên dưới thượng bì, từ đó cung cấp nhiều oxygen và nhiều chất dinh dưỡng hơn cho lớp đáy của thượng bì. Lớp đáy của thượng bì là lớp cấu tạo bởi stem cell (tế bào sản sinh ra các tế bào da) nên việc hấp thụ đầy đủ dưỡng chất để sản sinh ra tế bào da mới là hết sức quan trọng. 

Ngoài ra, cấu trúc gợn sóng này còn giúp gắn kết hạ bì và thượng bị chặt chẽ với nhau hơn. Nhờ khả năng gắn kết chặt chẽ mà da có thể chịu được những lực trượt lực kéo trên da. Giả dụ, nếu 2 lớp da không được gắn kết bằng các khớp gợn sóng, thì khi chúng ta trượt hay kéo da, 2 lớp da sẽ bị trượt qua lại và bị tách ra vì không có chỗ để bám vào nhau. 

Ở vân tay, vân gót chân, hay những vị trí chịu nhiều sức ma sát chúng ta có thể thấy sự gợn sóng rõ rệt nhất. 

Stretch marks – Rạn da

Rạn da là kết quả của lớp trung bì bị tổn thương từ bên trong (internal scarring). Khi một vùng da bị căng quá mức, các liên kết giữa những collagen song song nhau bị gãy, và các mạch máu cũng bị phá vỡ. Đặc điểm này tạo ra hiện tượng vết rạn mới hình thành có màu hơi hồng hay đỏ. 

Cơ thể sẽ tự chữa lành vị trí rạn, bằng cách tái tạo những sợi collagen và elastin mới. Tuy nhiên, collagen được tái tạo bởi fibroblast lại mỏng hơn, rời rạc, bó dày và xếp song song nhau. 

Bên cạnh đó, các sợi elastin nằm dọc ngay dưới lớp papillary dermis cũng bị mất đi khi da bị rạn. Ở phần papillary dermis, các elastin mới hình thành cũng rất mỏng và ngắn rõ rệt.

Ở giai đoạn trưởng thành, vết rạn sẽ không còn nhiều sự hiện diện của các mạch máu. Do đó vết rạn sẽ có màu trắng thay vì màu hồng như lúc ban đầu. Vùng da rạn lúc này được xem như là vùng da sẹo (scar).  

Theo các nghiên cứu, phương thức điều trị rạn da mang lại hiệu quả cao nhất là radio frequency (RF) hay RF kết hợp với các phương thức điều trị khác. RF mang lại hiệu quả khá tốt khi vết rạn còn mới và có màu hồng. 

Một số nghiên cứu cũng cho thấy RF hiệu quả trên các vết rạn đã cũ. Tuy nhiên sau khi vết rạn đã chuyển sang màu trắng, vì không còn sự hiện diện nhiều của mạch máu, thì các phương thức chữa trị thường không mang lại hiệu quả đáng kể như khi vết rạn còn mới. Vì nếu không có mạch máu thì không có oxygen, tế bào miễn dịch, hay chất dinh dưỡng nào có thể tiếp cận để nuôi dưỡng vùng da rạn. 

Trong bài viết sau mình sẽ tìm hiểu sâu hơn về rạn da và các cách điều trị phù hợp và hiệu quả nhé 💕

Stay tuned!

Nguồn tham khảo

Harmelin, Y., Boineau, D., Cadot-Leccia, N., Fontas E., Bahadoran P., Becker A.L., Montaudié, H., Castela, E., Perrin, C., Lacour, J.P. & Passeron,T. (2016). Fractionated bipolar radiofrequency and bipolar radiofrequency potentiated by infrared light for treating striae: A prospective randomised, comparative trial with objective evaluation. Lasers in Surgery and Medicine, 48(3), 245-253. doi: 10.1002/lsm.22458

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Hague, A., & Bayat, A. (2017). Therapeutic targets in the management of striae distensae: A systematic review. Journal of the American Academy of Dermatology77(3), 559–568. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2017.02.048

Kabashima, K., Honda, T., Ginhoux, F., & Egawa, G. (2019). The immunological anatomy of the skin. Nature Reviews. Immunology19(1), 19–30. https://doi.org/10.1038/s41577-018-0084-5

CẤU TRÚC DA – THƯỢNG BÌ

Trước khi tìm hiểu các vấn đề về da và các cách trị liệu, mình hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược về cấu trúc của da cũng như nguyên lý hoạt động của da nhé. Bài đầu tiên mình sẽ cùng nhau bàn về lớp thượng bì của da, và các tế bào tồn … Continue reading “CẤU TRÚC DA – THƯỢNG BÌ”

Trước khi tìm hiểu các vấn đề về da và các cách trị liệu, mình hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược về cấu trúc của da cũng như nguyên lý hoạt động của da nhé. Bài đầu tiên mình sẽ cùng nhau bàn về lớp thượng bì của da, và các tế bào tồn tại ở lớp da này. Trong bài tiếp theo mình sẽ viết về cấu trúc của lớp trung bì. 

Xét về mặt trọng lượng, da là bộ phận lớn nhất trên cơ thể với tổng cân nặng vào khoảng 4-5kg. Da có độ dày khác nhau tuỳ vào vị trí trên cơ thể. Ví dụ như ở mắt là 0.5mm, ở gót chân là 4.0mm, và ở các vị trí còn lại là 1-2mm. 

Da được cấu tạo bởi lớp trên cùng được gọi là Thượng Bì, và lớp bên dưới, được gọi là Trung bì. Bên dưới Trung bì là lớp Hạ Bì, có chức năng liên kết lớp Hạ bì vào lớp cơ. 

Mặc dù nhìn bằng mắt thường da có cấu trúc dạng lớp, nhưng khi nhìn dưới kính hiển vi, da được cấu tạo bởi sự kết nối của hàng triệu các tế bào keratin. Các tế bào keratin kết nối thông qua các liên kết tế bào (cell junctions). Các liên kết tế bào này mang đến tính dẻo dai đàn hồi cho da khi phải chịu các tác động từ bên ngoài bên cạnh các nhân tố khác như keratin, collagen và elastin. Hai loại liên kết tế bào hiện diện ở da gồm có corneodesmosome và hemidesmosome.

Khi chúng ta dùng peel da hoá học hay vật lý lên da, các mối liên kết tế bào giữa các tế bào da bị phá vỡ. Sự mất liên kết này khiến các tế bào da chết dễ dàng bị tróc đi. Các peel dạng nhẹ sẽ phá vỡ những liên kết tế bào ở lớp bên trên của lớp sừng. Những peel mạnh hơn sẽ phá vỡ những liên kết ở các lớp sừng sâu hơn. 

CÁC TẾ BÀO

  • Tế bào langerhans: có vai trò cực kì quan trọng trong khả năng miễn dịch của da. Khi da có sự xâm hại của vi khuẩn hay vật thể lạ, tế bào langerhans sẽ bắt lấy các vi khuẩn này, thông báo cho các tế bào miễn dịch khác trong cơ thể đến vị trí bị xâm phạm và cùng nhau loại trừ vi khuẩn. Tuy nhiên tế bào langerhans lại dễ bị tổn thương bởi tia UV 

Tips: bảo vệ da khỏi tia UV -> bảo vệ tế bào langerhans -> bảo vệ hệ miễn dịch của da 

  • Tế bào cảm giác: nằm ở lớp tế bào đáy (basal layer) và liên kết với tactile disc của riêng mình. Tế bào này có nhiệm vụ truyền tín hiệu cảm giác (light touch) khi có gì đó chạm vào da.  

CÁC LỚP DA

Phần lớn da các vùng trên cơ thể được cấu trúc bởi 4 lớp: lớp tế bào sừng (Stratum Corneum), lớp tế bào hạt (Granular Layer), lớp tế bào gai (Prickle Layer), và lớp tế bào đáy (Basal Layer). Ngoại trừ những vùng da dày như ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, và đầu ngón tay sẽ có thêm lớp tế bào sáng (Stratum Lucidum). Cấu trúc, loại liên kết tế bào, và tế bào cư ngụ ở từng lớp da được mình tóm tắt trong bảng bên dưới

Lớp daCấu trúc của lớp tế bàoCấu trúc của KeratinocyteSự hiện diện của các tế bào khácLoại liên kết tế bào
Lớp tế bào sừng– 20-50 lớp
– Tồn tại đa phần là tế bào sừng
– Tế bào dẹp hoàn toàn, chứa đa phần là sợi keratin
– Tế bào được xem như đã chết, những vẫn thực hiện chức năng ra hiệu cho các tế bào lân cận.  
– Tế bào langerhansCorneodesmosomes
Lớp tế bào sáng– 4-6 lớp
– Chỉ xuất hiệt ở da lòng bàn tay, lòng bàn chân, và đầu ngón tay
– Tế bào chết, trong suốt, dẹp
– Tế bào keratin tích tụ một lượng lớn sợi keratin
– Tế bào langerhansCorneodesmosomes
Lớp tế bào hạt– 3-5 lớp
– Tế bào keratine dần trở nên dẹp hơn 
– Tế bào keratin dần chết đi theo chu trìnhBắt đầu có sự xuất hiệt của protein keratohyalin (chuyển khoá keratin filament thành keratin fibers) và hạt lamellar (tiết ra chất béo có khả năng chống nước) – Tế bào langerhansCorneodesmosomes
Lớp tế bào gai– 8-10 lớp
– Tế bào keratin 
-Một số tế bào keratin tiếp tục phân bào 
– Tế bào keratin trở nên dẹp hơn khi di cư lên phía trên 
– Xúc tua của tế bào hắc tố
-Tế bào langerhans
Corneodesmosomes kết nối các tế bào tại lớp tế bào gai với nhau, tạo nên tính bền bỉ và dẻo dai cho da 
Lớp tế bào đáy-1 lớp duy nhất
-Tế bào keratin tròn, và tế bào gốc (stem cells)
-Một tế bào gốc (stem cell) sẽ liên tục phân bào thành 1 stem cell và một tế bào con. -Tế bào con sẽ di chuyển lên lớp Tế bào gai, thay đổi hình dạng, và các bào quan. Tế bào stem cell sẽ ở lại lớp đáy và tiếp tục phân bào.  – Tế bào hắc tố
-Tế bào cảm giác
-Corneodesmosome tạo kết nối giữa các tế bào tại lớp đáy, và kết nối giữa tế bào lớp đáy và tế bào lớp gai
– Hemidesmosome tạo kết nối giữa tế bào lớp đáy với basement membrane (lớp này nằm ngay dưới basal layer có nhiệm vụ liên kết dermis và epidermis) 
LỚP TẾ BÀO SỪNG

Lớp tế bào sừng đóng vai trò khá quan trọng trong chức năng bảo vệ da, nên mình sẽ miêu tả chi tiết hơn về cấu trúc của lớp da này nhé. Hiểu rõ về cấu trúc của lớp sừng sẽ giúp chúng ta hình dung và hiểu được vì sao khi da bị khô, thiếu dầu hay thiếu ẩm sẽ dẫn đến tình trạng da bị kích ứng với môi trường bên ngoài. Môi trường bên ngoài bao gồm các sản phẩm mình sử dụng lên da, hay các hạt bụi, phấn hoa, hay bất kì vật thể nào tiếp xúc lên da. 

Như trong ảnh miêu tả lớp tế bào sừng bên trên, các tế bào keratin được đan lại với nhau bằng liên kết tế bào corneodesmosome. Giữa những tế bào keratin này là chất lipid – intercellular lamellar lipid (intercellular: giữa các tế bào). Sự sắp xếp này nôm na mô phỏng cấu trúc của gạch và xi măng (brick and motar structure). 

  • Chất intercellular lamellar lipid: như trong bảng tóm tắt bên trên về các lớp da, ở tầng tế bào gai bắt đầu có sự hình thành của lamellar granules. Các hạt lamellar này ban đầu được sản sinh từ trong tế bào keratin, sau quá trình chuyển hoá, cuối cùng trở thành lớp lipid bi-layer bên ngoài tế bào keratin. Chất lipid này giúp da có khả năng chống thấm nước, và cũng giúp hơi nước không bị bốc hơi ra ngoài. 
  • Tế bào sừng (corneocyte): bên trong có chứa các sợi keratin và NMF (Natural moisturising factors). Bên ngoài được bao phủ bởi 1 lớp sừng hoá. Bên trên lớp sừng hoá này lại được bao phủ bởi 1 lớp lipid. 

NMF có khả năng hút ẩm từ môi trường xung quanh ngay khi độ ẩm không khí xuống khá thấp, khoảng 50%. Việc rửa tay thường xuyên khiến cho lượng NMF bị trôi theo nước mà mất đi, đồng thời làm tổn hại cấu trúc lipid vốn có của da. Dẫn đến tình trạng da mất khả năng hút ẩm cũng như giữ ẩm. Ngoài ra, khi phần lipid ở da bị phá vỡ, lớp phòng bị của da trở nên yếu dần. Đặc điểm này vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn hay các vật thể lạ xâm lấn vào da nhanh và dễ dàng hơn. Khiến da dễ kích ứng khi có tiếp xúc với những vật thể lạ. 

Nhìn tổng thể, nhờ vào chất lipid tồn tại ở lớp sừng mà da chúng ta có khả năng chống nước cực kì hiệu quả. Nếu da không chống nước thì mọi người tưởng tượng miếng bông rửa chén nó hút nước thế nào, thì da ta cũng hút nước y như thế và cuối cùng là bị phù nước mất thôi ạ 😂

Nói như vậy thì da chúng ta bảo vệ quá nghiêm ngặt. Và không rõ là những gì chúng ta xức lên da có thể thấm sâu vào da đúng không nhỉ. Thật ra, cấu trúc da cho phép những gì chúng ta xức lên da thấm vào bên trong (mà không cần sự hỗ trợ của dụng cụ hay thiết bị) qua ba phương thức chủ yếu: 

  • Tuyến mồ hôi, lỗ chân lông
  • Đi len giữa các tế bào keratin
  • Đi xuyên qua các tế bào keratin 

Trong 3 cách thức này thì hai cách đầu tiên là khả thi nhất. 

QUÁ TRÌNH SỪNG HOÁ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƯỢNG BÌ

Các tế bào keratin mới được sản sinh ở lớp tế bào đáy. Trong quá trình phát triển của mình, các tế bào này di cư từ lớp tế bào đáy lên lớp tế bào sừng ở bề mặt da. Trong quá trình di cư, các tế bào keratin sẽ mất dần đi các bào quan (organelles – hay các tiểu tế bào bên trong tế bào keratin), hình dạng của chúng trở nên dẹp hơn, và dần tích tụ nhiều sợi keratin hơn. Đây được gọi là quá trình sừng hoá. Khi các tế bào keratin di cư đến lớp sừng trên cùng, chúng dần tróc đi và các tế bào keratin bên dưới lần lượt di cư lên lớp sừng để thay thế cho phần sừng hoá bị tróc đi. Ở da có độ dày trung bình khoảng 0.1mm, toàn bộ chu trình di cư này thường kéo dài từ 4 đến 6 tuần. 

Theo những gì đã thảo luận bên trên, chúng ta có thể thấy lớp thượng bì không có mạch máu để có thể nhận oxy và dưỡng chất. Vì lí do này, lớp hạ bì được cấu trúc với một hệ thống dày đặc các sợi mạch máu, nhằm cung cấp dưỡng chất và oxy cho lớp thượng bì. Nguyên lý cơ bản cho mọi tế bào sống là chúng cần oxy và dưỡng chất để hoạt động và tồn tại. Vì vậy nếu xét về vị trí sắp xếp, các tế bào nằm ở lớp đáy là những tế bào nhận được nhiều dưỡng chất nhất vì có vị trí gần nhất với hệ thống mạch máu ở lớp trung bì. Đây cũng là lớp tế bào liên tục sản sinh ra các tế bào keratin gốc (stem cell) thông qua quá trình phân bào. Các stem cell này sẽ lần lượt theo chu trình sừng hoá mà di chuyển lên bề mặt da, xa dần khỏi hệ thống mạch máu, nhận được ít oxy và dưỡng chất hơn, hoạt động chậm dần lại và cuối cùng là chết đi. 

Khi lớp sừng bị xâm phạm quá mức, lớp tế bào đáy sẽ bị kích thích để tăng cường hoạt động sản sinh tế bào gốc và tế bào keratin mới nhằm bù lại lớp da thượng bì bị mất. Nguyên lý hoạt động đằng sau sự phát triển kì diệu này của tế bào da hiện còn chưa được khám phá toàn diện. Tuy nhiên, trong quá trình này có sự góp mặt của một protein đóng vai trò then chốt, chi phối toàn bộ quá trình tái tạo da được gọi là EGF (Epidermal Growth Factor). 

Bài viết về lớp thượng bì tạm thời kết húc tại đây. Ở phần sau mình sẽ cùng nhau thảo luận về lớp trung bì. Mọi người đón đọc nhé 🙂 

Nguồn tham khảo:

Harding, C. (2004). The stratum corneum: Structure and function in health and disease. Dermatologic Therapy17(1), 6-15

Tortora, G. J., Derrickson, B. H., Burkett, B., Dye, D., Cooke, J., Diversi, T., McKean, M., Mellifont, R., Samalia, L., & Peoples, G. (2015). Principles of anatomy and physiology. Retrieved from https://ebookcentral.proquest.com

Lee, K. C., Wambier, C. G., Soon, S. L., Sterling, J. B., Landau, M., Rullan, P., & Brody, H. J. (2019). Basic chemical peeling: Superficial and medium-depth peels. Journal of the American Academy of Dermatology81(2), 313–324. https://doi.org/10.1016/j.jaad.2018.10.079

Ogawa-Fuse, C., Morisaki, N., Shima, K., Hotta, M., Sugata, K., Ichihashi, T., Oguri, M., Yoshida, O., & Fujimura, T. (2019). Impact of water exposure on skin barrier permeability and ultrastructure. Contact Dermatitis80(4), 228–233. https://doi.org/10.1111/cod.13174